Hiện trạng và định hướng phát triển chuỗi giá trị cá ngừ bền vững tại miền Trung

(Ngày đăng: 07/03/2019 10:12:37, bởi: hoangoanh)

(Trích từ Thông tin chuyên đề Nông nghiệp & PTNT, số 10_2018) (Kì 1)


MỞ ĐẦU

Nghề khai thác cá ngừ đại dương du nhập vào Việt Nam từ những năm 1990, được xác định là một trong những đối tượng xuất khẩu chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam. Trữ lượng nhóm cá thu ngừ vùng biển Việt Nam ước tính khoảng 780.000 tấn (chiếm 67,5% tổng trữ lượng cá nổi lớn). Trong đó, cá ngừ vằn có trữ lượng chiếm ưu thế, ước tính khoảng 618.000 tấn (chiếm 53,5%). Nhóm cá ngừ đại dương có trữ lượng trung bình, ước tính khoảng 45.000 tấn, bao gồm cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ chù và cá ngừ chấm (Viện Nghiên cứu Hải sản, 2011).

Khai thác cá ngừ tập trung chủ yếu ở các tỉnh Nam Trung bộ bao gồm Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa, đối tượng khai thác chủ yếu là cá ngừ vây vàng (Thunnus albacares), cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis) và cá ngừ mắt to (Thunnus obesus). Sau hơn 10 năm phát triển ngành cá ngừ đã đạt được một số thành tựu cơ bản như: (1)Về số tàu cá, theo Tổng cục Thủy sản (2017), năm 2017, cả nước có khoảng 4.180 chiếc tàu khai thác cá ngừ, tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung (Bình Định,Phú Yên, Khánh Hòa). Trong đó, nhóm tàu cá có công suất từ 50-89 CV chiếm khoảng 4,5%; tàu cá từ 90-149 CV chiếm 3,4%; tàu cá từ 150-249 CV chiếm 7,9%; tàu cá từ 250-399 CV chiếm 30,3%; nhóm tàu cá trên 400 CV chiếm 53,85% tổng số tàu khai thác cá ngừ cả nước; (2) Về sản lượng khai thác, năm 2017 đạt khoảng 123.080 tấn cá ngừ các loại, trong đó có 49,150 tấn cá ngừ đại dương. Trong đó, Bình Định chiếm 38,4% (tương đương 18.870 tấn); Phú Yên chiếm 14,9% (tương đương 7.310 tấn); Khánh Hòa chiếm 46,7% (tương đương khoảng 22.970 tấn); (3) Về xuất khẩu, theo VASEP, năm 2017, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đạt 592,8 triệu USD, tăng gấp khoảng 2,02 lần so với năm 2010, bình quân tăng trưởng 9,3%/năm, hiện cá ngừ của Việt Nam đã có măt ở 96 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, 10 thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam trong những năm qua bao gồm: Mỹ, Nhật Bản, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Israel, Canada, Tunisia, Thái Lan, Mexico. Ngoài ra, ngành cá ngừ phát triển còn góp phần giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động các tỉnh ven biển miền Trung, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, phát triển khai thác cá ngừ đại dương còn góp phần giảm áp lực cho khai thác thủy sản ven bờ, thúc đẩy phát triển khai thác thủy sản xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền an ninh biển đảo của Tổ quốc.

ảnh: internet

Tuy nhiên, phát triển nghề khai thác cá ngừ đại dương trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn chế như hiệu xuất sản xuất thấp, thiếu tính bền vững và khả năng cạnh trên các thị trường xuất khẩu yếu. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu vẫn dưới dạng các sản phẩm giá trị thấp như cá ngừ đông lạnh chiếm trên 90% tỷ trọng xuất khẩu. Nguyên nhân chính là do phương thức và tổ chức sản xuất trong khai thác, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chưa phù hợp (phân tán, không được kiểm soát) và chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ và chia sẻ lợi ích hợp lý giữa cơ sở thu mua, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu với ngư dân. Bên cạnh đó, sự chi phối của các cơ sở thu mua/nậu vựa đã hạn chế lớn đến sự hợp tác giữa những người đánh bắt và các nhà chế biến xuất khẩu.

1. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, CHẾ BIẾN, TIÊU THỤ CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG
1.1. Hiện trạng khai thác, chế biến và xuất khẩu cá ngừ
Theo Tổng cục Thủy sản (2017), tính đến năm 2017, cả nước có khoảng 4.180 chiếc tàu khai thác cá ngừ (như đã nêu trên). Nhìn chung, tổng số tàu khai thác cá ngừ có xu hướng tăng khoảng 12,4%/năm trong giai đoạn 2011-2017.
Tuy nhiên, cơ cấu tàu cá có sự thay đổi theo chiều hướng giảm nhóm tàu cá có công suất nhỏ dưới 250 CV và tăng mạnh nhóm tàu cá có công suất trên 250 CV trở lên. Cụ thể: (1) Nhóm tàu cá có công suất từ 50-89 CV giảm 32,6%/năm; (2) Nhóm tàu cá từ 90-149 CV giảm 28,6%; (3) Nhóm tàu cá từ 150-249 CV giảm 11,9%; (4) Trong khi đó nhóm tàu cá có công suất từ 250-399 CV tăng khoảng 17,1%/năm; (5) Đặc biệt là tàu cá có công suất trên 400 CV có mức tăng trưởng rất cao, bình quân tăng khoảng 119,02%, đây là mức tăng trưởng khá cao trong một thời gian ngắn, đã gây nên áp lực lớn đến nguồn lợi cá ngừ cũng như hiệu quả kinh tế bình quân mỗi chuyến biển.

Về sản lượng khai thác, năm 2017, cả nước khai thác khoảng 123.080 tấn cá ngừ các loại. Trong đó, cá ngừ đại dương khoảng 49,150 tấn cá ngừ đại dương các loại chiếm khoảng 40% tổng sản lượng cá ngừ ở Việt Nam. Trong đó, Bình Định chiếm 38,4% (tương đương 18.870 tấn); Phú Yên chiếm 14,9% (tương đương 7.310 tấn); Khánh Hòa chiếm 46,7% (tương đương khoảng 22.970 tấn). Trong giai đoạn 2011-2017 thể hiện xu hướng tăng, khoảng 12,4%/năm, tuy nhiên, tăng trưởng giữa các địa phương là khác nhau. Cụ thể, Bình Định tăng trưởng 12,8%/năm; Phú Yên tăng trưởng 8,04%/năm; Khánh Hòa tăng trưởng 13,6%/năm.

Bảng 1. Sản lượng khai thác cá ngừ đại dương ở Việt Nam giai đoạn 2011-2017
ĐVT: Tấn
Tỉnh 2011 2012 2013 2014 2017 TĐTBQ
(%/năm)
Bình Định 11.655 17.702 20.842 22.282 18.870 12,8
Phú Yên 5.367 5.256 4.544 16.842 7.310 8,04
Khánh Hòa 13.786 11.421 21.587 22.371 22.970 13,6
Tổng cộng 30.808 25.127 46.935 61.495 49.150 12,4
Nguồn: Vụ Khai thác thủy sản (Tổng cục Thủy sản), thống kê giai đoạn 2010-2017

Nhìn chung, năng suất nghề câu và nghề vây ở Việt Nam có xu hướng giảm mạnh, đặc biệt là nghề câu năng suất bình quân giai đoạn 2011-2017 giảm 7,1%/năm; năng suất nghề vây giảm 2,6%/năm. Ngược lại, năng suất nghề rê (cá ngừ vằn) lại có xu hướng tăng, khoảng 16,3%/năm, dẫn đến năng suất toàn ngành cá ngừ lên khoảng 1,4%. Ngược lại với toàn quốc, riêng tỉnh Bình Định năng suất nghề câu tăng trưởng 2,9%/năm, trong khi đó nghề rê giảm rất lớn 71,4%/ năm.
 
Bảng 2. Năng suất khai thác cá ngừ ở Việt Nam giai đoạn 2011-2017
ĐVT: Tấn/tàu/năm
TT Loại nghề 2011 2012 2013 2014 2017 TĐTBQ
(%/năm)
1 Nghề câu 13,77 9,45 9,38 10,10 10,3 -7,1%
2 Nghề rê 9,46 8,54 20,36 20,11 17,3 16,3%
3 Nghề vây 10,91 13,92 12,21 16,18 9,8 -2,6%
Nguồn: Vụ Khai thác thủy sản (Tổng cục Thủy sản), thống kê giai đoạn 2010-2017

Về chế biến cá ngừ, hiện nay hầu hết các nhà máy chế biến cá ngừ đại dương đều được cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng HACCP và được cấp Code xuất khẩu thị trường Châu Âu. Hầu hết các nhà máy chế biến cá ngừ đều sử dụng thiết bị cấp đông tiếp xúc (CF), đông gió và hầm đông lạnh, đông rời (IQF) đang được các nhà máy chế biến cá ngừ sử dụng để cấp đông sản phẩm. Thiết bị cấp đông tiếp xúc (CF) chủ yếu cấp đông các sản phẩm cá ngừ block như thăn cá ngừ vằn hấp chín, một số nhà máy chưa trang bị thiết bị cấp đông rời (IQF) sử dụng thiết bị này để đông các loại sản phẩm Steaks, Saku, Cube; thiết bị đông gió chủ yếu cấp đông các sản phẩm cá ngừ nguyên con và bỏ đầu; một số nhà máy có trang bị hầm đông lạnh , đông rời (IQF) cấp đông sản phẩm Steaks, Saku, Cube; hiện có nhà máy đã trang bị thiết bị cấp đông sâu (-600C) cấp đông các sản phẩm có chất lượng cao và có hàm lượng giá trị gia tăng cao.

ảnh: internet

Đối với các nhà máy chế biến đồ hộp đều trang bị thiết bị hấp và nồi hơi, thiết bị ghép mí và thiết bị thanh trùng đảm bảo chế biến các sản phẩm đồ hộp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường EU, Mỹ, Nhật,… Một số nhà máy đã tự trang bị thiết bị và sản xuất hộp và bao bì đóng hộp.

Riêng sản phẩm ngừ đông lạnh được chế biến khá đa dạng như cá ngừ nguyên con bỏ nội tạng đông lạnh; cắt đầu bỏ nội tạng đông lạnh; fillet (loin) còn da, bỏ xương hoặc bỏ da, bỏ xương đông lạnh, gồm 02 dạng có hoặc không xông CO; cá ngừ cắt lát còn da (steaks skin less), gồm 02 dạng có hoặc không xông CO, cá ngừ cắt miếng (saku; cube) đông lạnh, gồm 02 dạng có hoặc không xông CO, thăn cá ngừ hấp đông lạnh.

Về xuất khẩu cá ngừ, theo VASEP (2017), năm 2017, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đạt 592,8 triệu USD, tăng gấp khoảng 2,02 lần so với năm 2010, bình quân tăng trưởng 9,3%/năm. Trong đó, cá ngừ mã HS16 chiếm 45,9% tổng giá trị xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam và đạt mức tăng trưởng bình quân cao nhất 12,2%/năm; và nhóm sản phẩm tươi sống, đông lạnh và khô cá ngừ có mã HS03 chiếm 54,1%, đạt mức tăng trưởng bình quân khoảng gần 7%/năm.

Hiện nay, các sản phẩm cá ngừ ở Việt Nam đã có mặt ở 96 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Top 10 thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam trong những năm qua bao gồm: Mỹ, Nhật Bản, Đức, Italya, Tây Ban Nha, Israel, Canada, Tunisia, Thái Lan và Mexico. Cụ thể, thị trường Mỹ chiếm khoảng 41,8% (tương đương 190,16 triệu USD); thị trường EU chiếm 21,4% (tương đương 97,37 triệu USD); thị trường ASEAN chiếm 8,43% (tương đương 38,36 triệu USD); thị trường Nhật Bản chiếm 4,49% (tương đương 20,42 triệu USD); thị trường Canada chiếm 2,18% (tương đương 9,9 triệu USD); thị trường Mexico chiếm 2,04% (tương đương 9,3 triệu USD); và các thị trường khác chiếm 19,66% (tương đương 89,46 triệu USD).


ảnh: nguồn internet

1.2. Hiện trạng lao động khai thác cá ngừ
Theo Chi cục thủy sản các địa phương, hiện nay, tổng số lao động khai thác cá ngừ tại Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, khoảng trên 35.000 người, dao động khoảng 5-6 người/tàu đối với nghề câu tay, khoảng 9-10 người/ tàu đối với nghề câu vàng, tàu lưới rê, 14-16 người/tàu lưới vây, trong đó 100% là nam giới trong độ tuổi từ 30-50 tuổi. Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là lao động có độ tuổi từ 40-50 tuổi, chiếm khoảng 64% trong tổng số lao động khai thác cá ngừ. Đa số lao động chưa qua đào tạo, 83% ngư dân trình độ học vấn cấp II, còn lại là cấp I. Trên tàu, thuyền trưởng là người có kinh nghiệm quản lý, điều hành khai thác và bảo quản sản phẩm, được đào tạo và cấp chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng. Đối với thuyền viên, kiến thức và hiểu biết chủ yếu tích lũy trong sản xuất không nhiều. Do thu nhập từ nghề khai thác cá ngừ thời gian qua suy giảm, ngư trường xa, chi phí đầu vào tăng cao, nên thu nhập của lao động thấp, khiến nhiều người chuyển nghề gây nên tình trạng thiếu lao động tại các địa phương. Nhiều lao động được chủ tàu tuyển chưa một lần ra biển, nhưng do thiếu lao động vẫn phải sử dụng, trong quá trình khai thác vừa làm vừa học vì vậy ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả khai thác mỗi chuyến biển. Dự báo tình hình này sẽ tiếp tục diễn ra trong thời gian tới.

1.3. Công nghệ khai thác và bảo quản sản phẩm
Nhìn chung, công nghệ khai thác cá ngừ nước ta vẫn đang ở mức lạc hậu hơn so với thế giới và khu vực.
Đối với nghề lưới vây, phương thức khai thác có 2 loại vây ngày và vây đêm kết hợp phương pháp dẫn dụ bằng ánh sáng. Hầu hết đều không sử dụng chà, chủ yếu khai thác theo kinh nghiệm. Tất cả các tàu lưới vây đều trang bị tời kéo lưới, thiết bị định vị. Hiện nhiều tàu đã trang bị thiết bị tầm ngư, khoảng trên 50% tàu có trang bị máy thu lưới.

Đối với nghề lưới rê, kết cấu vàng lưới tùy thuộc vào công suất tàu và ngư trường. Thao tác và kỹ thuật thả lưới bằng thủ công, công đoạn thu lưới được trang bị máy thu lưới truyền động bằng thủy lực. Thời gian thả, ngâm, thu lưới tùy thuộc vào chiều dài vàng lưới, tập quán sản xuất của từng địa phương và tốc độ thả thu lưới và chiều dài vàng lưới.

Đối với nghề câu cá ngừ, hiện vẫn còn 02 loại câu vàng và câu tay kết hợp với ánh sáng, nhưng nghề câu tay hiện nay đã trở nên phổ biến và chiếm đa số. Đối với nghề câu tay, xuất hiện từ cuối năm 2011 đến nay, tàu được trang bị máy phát điện, đèn cao áp, cần, dây câu, mỗi tàu với 4-6 cần câu. Thời gian chuyến biển được rút ngắn bằng khoảng 2/3 thời gian so với câu vàng. Nghề câu tay đạt sản lượng khai thác khá cao. Tuy nhiên, chất lượng cá ngừ câu tay thấp, tỷ lệ cá ngừ câu tay đạt tiêu chuẩn sashimi chỉ đạt khoảng 5-6% trong lô sản phẩm khai thác được. Nhưng do chi phí di chuyển thu thả câu, chi phí mồi đã được cắt giảm so với câu vàng và thời gian chuyển biến ngắn hơn câu vàng nên hiệu quả của nghề này vẫn cao hơn so với nghề câu vàng truyền thống.

bảo quản cá ngừ (ảnh: nguồn internet)

Về công nghệ bảo quản sản phẩm, đa số hầm bảo quản sản phẩm sử dụng vật liệu với chất liệu là xốp ghép (styrofor), một số tàu còn sử dụng bạt và những tấm xốp rời lót trong hầm nên khả năng giữ lạnh thấp, mức tiêu hao đá lớn, chất lượng sản phẩm giảm nhanh, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số tàu đã tiến hành lắp đặt hầm bảo quản bằng công nghệ xốp thổi (Polyurethane), đảm bảo chất lượng, kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm xong chưa nhiều. Bên cạnh việc bảo quản bằng nước đá trong hầm lạnh truyền thống, một số ít tàu đã đưa vào thử nghiệm bảo quản bằng đá lỏng, hầm lạnh lắp thiết bị làm lạnh,…nhưng chưa thực sự hiệu quả. Thời gian xử lý, sơ chế, phân loại và rửa cá kéo dài. Hầu hết tàu câu cá ngừ không thực hiện công đoạn ngâm hạ nhiệt, nhiều tàu không thực hiện đúng các yêu cầu kỹ thuật trong xử lý, sơ chế, bảo quản cá ngừ, nước đá chất lượng không đạt, cùng với thời gian bảo quản kéo dài 18-20 ngày, nên cá không đạt yêu cầu chất lượng ăn tươi (sashimi). Đối với tàu lưới vây, phương pháp bảo quản bằng khay nhựa hoặc cách muối trực tiếp lớp đá, lớp cá dưới hầm bảo quản; các lớp đá dưới đáy, xung quanh và giữa các lớp cá, trong quá trình bảo quản khó bổ sung tần suất bổ sung, chỉ thực hiện đối với lớp bề mặt, nên có thể nhiệt độ bảo quản không đáp ứng yêu cầu. Thời gian bảo quản cá trên tàu dài từ 2-3 tuần, nhiều tàu thời gian bảo quản cá trên tàu trên 4 tuần, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cá ngừ sau thu hoạch.

1.4. So sánh hiệu quả kinh tế các chuỗi giá trị cá ngừ đại dương
Bảng 3. Ước tính lợi nhuận của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cá ngừ đại dương (kết quả khảo sát năm 2016-2017)
TT Tác nhân Sản lượng theo năm (tấn) Lợi nhuận/ kg
(Đồng/kg)
Tổng lợi nhuận
(Triệu đồng)
Tỷ lệ 
(%)
Theo năm Theo tháng
1 Ngư dân 10 25.000 250 21 1,15
2 Thương lái 800 1.000 800 67 3,67
3 Chủ vựa 4.500 4.000 18.000 1.500 82,62
4 DNCB 180 15.000 2700 225 12,39
5 CSBB 1,8 20.000 36 3 0,17
6 CSBL 10 25.000 250 21 1,15
 
Rõ ràng việc phân phối lợi ích trên toàn bộ chuỗi giá trị cá ngừ đại dương hiện nay là chưa hợp lý so với mức độ rủi ro và đầu tư của ngư dân chưa tạo ra động lực để ngư dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, từ đó nâng cao giá trị sản phẩm cá ngừ đại dương ngay từ đầu chuỗi.

Đối với thị trường nội địa, các sản phẩm cá ngừ đại dương tiêu thụ ở thị trường nội địa chủ yếu là các phụ phẩm dư thừa trong quá trình chế biến xuất khẩu là chính, các sản phẩm này chiếm trên 86,83% tổng sản lượng cá ngừ bán của các cơ sở bán buôn và bán lẻ ở thị trường nội địa.

Về cơ cấu tiêu thụ các sản phẩm cá ngừ đại dương ở thị trường nội địa cho thấy, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm cá ngừ đại dương các tỉnh thành phố phía Bắc chiếm từ 20-30%; các tỉnh miền Trung chiếm từ 10-20%; các tỉnh phía Nam chiếm từ 50-60% tổng sản lượng cá ngừ tiêu thụ ở thị trường nội địa Việt Nam.
Cao Lệ Quyên, Nguyễn Tiến Hưng và Trịnh Quang Tú
Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ Sản