Hiện trạng và định hướng phát triển chuỗi giá trị cá ngừ bền vững tại miền Trung

(Ngày đăng: 15/03/2019 09:27:58, bởi: hoangoanh)

(Trích từ Thông tin chuyên đề Nông nghiệp & PTNT, số 10_2018) Kì 2

Cao Lệ Quyên, Nguyễn Tiến Hưng và Trịnh Quang Tú
Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ Sản
2. ĐÁNH GIÁ TÍNH LINH HOẠT CỦA CHUỖI
2.1. Thời gian đáp ứng
Sản phẩm cá ngừ sau khi tách chúng ra khỏi môi trường nước chúng rất nhanh chóng bị tác động của điều kiện khí hậu và thời tiết, dễ bị ươn, hỏng nếu như không được bảo quản tốt, chính vì nhược điểm này mà yêu cầu thời gian đáp ứng càng nhanh thì chất lượng càng được đảm bảo. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, đối với tác nhân ngư dân với thời gian trung bình 20 ngày/chuyến biển là không đảm bảo theo tiêu chuẩn quy định (theo các chuyên gia Nhật Bản, để đảm bảo chất lượng cá ngừ xuất nguyên con sang Nhật thì thời gian tối đa khoảng một tuần là phải cập cảng bao gồm cả thời gian đi ra, đi vào và thời gian khai thác cá ngừ đại dương). Còn tác nhân còn lại (thương lái, nậu vựa, doanh nghiệp…) thì đảm bảo được thời gian theo quy định về thời gian vận chuyển trung bình rất ngắn từ 1 – 4 ngày, lại được vận chuyển và bảo quản bằng xe lạnh, vì vậy chất lượng đảm bảo hơn so với ngư dân. Chẳng hạn đối với doanh nghiệp sau khi thu mua của ngư dân, các thương lái/chủ vựa vận chuyển xa nhất vào tp.Hồ Chí Minh cũng chỉ mất 12 tiếng đồng hồ, còn chủ yếu vận chuyển vào Khánh Hòa cũng chỉ mất nữa ngày, đặc biệt đối với tác nhân bán buôn vận chuyển cho các cơ sở bán lẻ trên toàn quốc cũng chỉ mất khoảng 3 ngày, còn vận chuyển đến các đại lý bán lẻ cũng chỉ mất 1 ngày.

 
ảnh: internet
 
2.2. Đánh giá chất lượng sản phẩm trong chuỗi
Nhìn chung, chất lượng sản phẩm cá ngừ khai thác của Việt Nam vẫn còn khá thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong 100% tổng sản lượng cá ngừ khai thác được chỉ có khoảng 0,02% sản lượng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu nguyên con sang thị trường Nhật Bản; 1,08% đạt loại 1 để xông CO cho xuất khẩu; 36,54% đạt loại 2, còn lại 62,37% đạt loại 3.

3. DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG
3.1. Các yếu tố đầu vào cho chuỗi
a) Trữ lượng cá ngừ: Theo Viện Nghiên cứu Hải sản, trữ lượng cá ngừ ở vùng biển Việt Nam khoảng trên 600 nghìn tấn. Trong đó, cá ngừ vằn chiếm hơn 50%, khả năng khai thác hằng năm là trên 200 nghìn tấn/năm; nhóm cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to có trữ lượng hơn 45 nghìn tấn, khả năng khai thác hằng năm từ 17.000 – 21.000 tấn/năm. Hiện nay sản lượng khai thác đối với cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to gần đạt mức tới hạn cho phép, trong khi cá ngừ vằn thì vẫn còn tiềm năng.

b) Phương tiện khai thác: Số lượng tàu tham gia khai thác nhiều, chủ yếu tàu vỏ gỗ, công suất thấp, vì vậy năng suất khai thác thấp ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế mỗi chuyến biển của ngư dân.

c) Tổ chức khai thác: Chủ yếu tổ chức khai thác nhỏ lẻ theo hộ gia đình, trên 70% tàu hoạt động khai thác độc lập, chưa tham gia liên kết chuỗi. Sản xuất theo tổ đội và tổ chức liên kết sản xuất trên biển còn ở tỉ lệ thấp và mang tính hình thức.

d) Xử lý và bảo quản sau thu hoạch: Phương thức bảo quản cá ngừ còn thô sơ, chủ yếu bảo quản bằng nước đá chưa đáp ứng yêu cầu kĩ thuật. Khả năng giữ lạnh thấp, vì vậy tỉ lệ hao hụt sản phẩm còn khá cao (khoảng trên 15%), chất lượng sản phẩm giảm nhanh sau khi đánh bắt.

e) Lao động khai thác: Hầu hết lao động khai thác hải sản hiện nay có trình độ học vấn và trình độ tay nghề thấp, chưa được qua đào tạo tay nghề bài bản, chủ yếu học nghề theo kiểu kèm cặp hướng dẫn trong quá trình đi biển. Cả nước chưa có cơ sở đào tạo nghề khai thác cho ngư dân, đặc biệt là khai thác hải sản xa bờ như nghề cá ngừ, nên ngư dân truyền nghề cho nhau theo kiểu “cha truyền con nối” và tự học hỏi từ thực tiễn khai thác, đánh bắt. Số thuyền trưởng có kinh nghiệm chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu cầu điều khiển những con tàu khai thác hải sản có công suất lớn, đánh bắt dài ngày trên biển với những thiết bị hiện đại. Hiểu biết của ngư dân về pháp luật trên biển, các ranh giới vùng biển khai thác còn hạn chế, dẫn đến các vi phạm về quy định đánh bắt và luật pháp trong nước và quốc tế trên biển. Về mặt kinh tế, thu nhập từ nghề cá của ngư dân còn thấp, điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn, vất vả. Phần lớn ngư dân khai thác hải sản không được chủ tàu ký kết hợp đồng bằng văn bản, chỉ thỏa thuận miệng, nên tình trạng quản lý, sử dụng ngư dân trên tàu cá ngừ (thợ bạn) không ổn định, tình trạng thiếu hụt thợ bạn đi biển trên các tàu khai thác cá ngừ vẫn còn phổ biến ở các tỉnh ven biển do thu nhập thấp, nhiều ủi ro và điều kiện làm việc vất vả.

f) Cơ sở hạ tầng nghề cá: Hệ thống dịch vụ hậu cần cảng cá, bến cá chưa thực sự hiệu quả, chất lượng dịch vụ và điều kiện cơ sở hạ tầng để đảm bảo vệ sinh và an toàn chất lượng sản phẩm cá ngừ khi lên bến còn kém, không đáp ứng yêu cầu, chưa có chợ đấu giá cá ngừ. Cơ sở hạ tầng một số cảng, bến cá xuống cấp chưa đáp ứng được như cầu thực tế của nghề cá ngừ theo hướng công nghiệp hiện đại.

 
ảnh: internet

3.2. Các yếu tố về thị trường
Đối với thị trường nội địa, thị hiếu tiêu dùng các sản phẩm cá ngừ đại dương của khách hàng trong nước còn chưa phổ biến, đặc biệt là các sản phẩm giá trị gia tăng chất lượng cao. Chưa nhiều người tiêu dùng biết đến và hiểu rõ về sản phẩm cá ngừ của Việt Nam. Chưa biết cách chế biến, đặc biệt sản phẩm cá ngừ đông lạnh và đóng hộp.

Đối với thị trường nước ngoài, nhu cầu tiêu thụ còn rất lớn, đặc biệt các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản… Tuy nhiên, các rào cản kỹ thuật khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, vấn đề truy xuất nguồn gốc sản phẩm, chống đánh bắt bất hợp pháp (IUU) hoặc các vấn đề liên quan đến bảo tồn nguồn lợi như quy định về an toàn cá heo, rùa biển, thực hiện quản lý, khai thác cá ngừ theo tiêu chuẩn (nhãn) sinh thái MSC,… đang là những thách thức nhưng cũng là các cơ hội cho việc cải cách nghề cá ngừ của Việt Nam theo hướng phát triển bền vững.

Dự báo về thị trường quốc tế cho thấy: Đối với thị trường Mỹ, xu hướng có thể sẽ giảm do thiếu ổn định về chất lượng và thiếu hụt nguồn nguyên liệu. Để xuất cá ngừ vào thị trường Mỹ, cá ngừ của Việt Nam có thể sẽ phải cạnh tranh gay gắt với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc và Thái Lan. Đối với thị trường EU, cảnh báo thẻ vàng của Châu Âu cho sản phẩm khai thác của Việt Nam vẫn đang là thách thức lớn cũng như cơ hội cho việc cải thiện hệ thống quản lý và hoạt động khai thác trong nghề cá ngừ. Đối với thị trường Nhật Bản, xu hướng tăng tiêu dùng các sản phẩm cá ngừ tươi sống nguyên con ăn Sashimi và cá ngừ đông lạnh, nhất là thăn cá ngừ do nhu cầu cá ngừ phẩm cấp sashimi không ổn định (Việt nam là một trong ba nhà cung cấp lớn đối với thăn cá ngừ đông lạnh/phi lê trên thế giới). Thị trường ASEAN đang trở thành thị trường mục tiêu mở rộng xuất khẩu cá ngừ của các nhà sản xuất cá ngừ trong khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng. Xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam vào ASEAN dự báo sẽ gặp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước lân cận và trên thế giới như: Thái Lan, Trung Quốc, Ecuador và Philippin…

 
ảnh: internet

3.3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu thông qua hiện tượng ENSO (El Nino và La Nina) sẽ tác động tới quần thể cá ngừ và nghề cá tại vùng biển nhiệt đới Thái Bình Dương. Các nghiên cứu cho thấy, quần đàn cá ngừ vằn tại Thái Bình Dương sẽ dịch chuyển về phía Đông khi diễn ra El Nino, sự mở rộng môi trường sống của cá ngừ vằn có thể có tác động tiêu cực tới sản lượng tại vùng biển phía Tây, nhưng lại làm tăng sản lượng trong vùng Trung tâm và phía Đông Thái Bình Dương. Như vậy, nếu xét theo xu thế này thì nghề cá ngừ vằn của Việt Nam sẽ được hưởng lợi vào các thời điểm diễn ra La Nina, nhưng ngược lại với El Nino, việc khai thác sẽ khó khăn hơn.

Đến năm 2050, khi nhiệt độ bề mặt nước biển tăng sẽ làm cá ngừ vằn di chuyển về vùng vĩ độ cao hơn (ví dụ hướng tới vùng biển của Nhật Bản hoặc là sang phía Tây) nên nghề cá ngừ tại các nước vùng xích đạo sẽ bị ảnh hưởng, như nghề cá Inđônêxia, Việt Nam dự báo sẽ bị giảm khoảng 10% sản lượng khai thác. So với 2010, đến năm 2050 quần đàn cá ngừ vằn giảm tại vùng xích đạo, đặc biệt vùng biển ấm Tây Thái Bình Dương. Và đến nữa sau thế kỉ 21, tổng trữ lượng cá ngừ vằn sẽ giảm mạnh trong hầu hết các vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam).

Nguồn tin: Thông tin chuyên đề Nông nghiệp & PTNT