Quyết định phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Phú Yên theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

(Ngày đăng: 17/06/2015 00:00:00, bởi: admin)

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN file:///C:/Users/Admin/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.gif Số: 1008/QĐ-UBND CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc file:///C:/Users/Admin/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.gif Phú Yên, ngày 16 tháng 6 năm 2015 QUYẾT ĐỊNH Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp tỉnh Phú Yên theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 file:///C:/Users/Admin/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003.gif ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003; Căn cứ Quyết định số 122/2008/QĐ-TTg ngày 29/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch Tổng thể phát triển kinh tế xã hội Phú Yên đến năm 2020; Căn cứ Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; Căn cứ Quyết định số 1384/QĐ-BNN-KH ngày 18/6/2013 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về Chương trình hành động của Bộ Nông nghiệp và PTNT thực hiện Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; Căn cứ Quyết định số 1533/QĐ-UBND ngày 10/9/2013 của UBND Tỉnh về phê duyệt Đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”; Xét đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (tại Tờ trình số 91/TTr-SNN, ngày 07 tháng 5 năm 2015) về việc Phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Yên theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, QUYẾT ĐỊNH: Điều 1. Phê duyệt kèm theo Quyết định này Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Yên theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Điều 2. Các ông (bà) Chánh Văn phòng UBND Tỉnh; Giám đốc các Sở: Nông nghiệp và PTNT, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Công Thương, Khoa học và Công nghệ; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố và thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. TM. UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH Nơi nhận: CHỦ TỊCH- Như Điều 2;- TT. Tỉnh ủy (báo cáo);- TT. HĐND (báo cáo);- CT, các PCT UBND Tỉnh;- Các Phó CVP UBND Tỉnh; Đã ký- Lưu: VT, Hg, Ha. Phạm Đình Cự ĐỀ ÁN Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Yên theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (Ban hành kèm theo Quyết định số 1008 /QĐ-UBND ngày 16/6/2015 của UBND Tỉnh) I. QUAN ĐIỂM TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP 1. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Phú Yên là một hợp phần của chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Yên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh và phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững chung của cả nước; gắn với phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường để đảm bảo phát triển bền vững. Nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững vừa là một quá trình, vừa là mục tiêu của ngành Nông nghiệp và PTNT. 2. Thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp vừa phải theo cơ chế thị trường vừa phải bảo đảm nâng cao thu nhập, phúc lợi cho đời sống của nông, ngư dân và người tiêu dùng, chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu phấn đấu sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thể hiện bằng giá trị, lợi nhuận; đồng thời chú trọng đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường sản xuất và sinh thái; 3. Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành nghề nông nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế tập thể, trang trại; tập trung công tác khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao khoa học, công nghệ phát triển thị trường, cơ sở hạ tầng phục vụ nông, lâm, thuỷ sản, cung cấp thông tin, dịch vụ trên địa bàn; 4. Tăng cường sự tham gia của UBND cấp huyện, các Sở, Ban, ngành, các hội, đoàn thể và các thành phần kinh tế, xã hội trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp; nông dân và doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp đầu tư đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ và thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn; 5. Tái cơ cấu là một quá trình phức tạp, khó khăn và lâu dài cần được thường xuyên đánh giá, sơ kết, rút kinh nghiệm để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế trên cơ sở xây dựng một hệ thống giám sát, đánh giá và tham vấn thông tin phản hồi từ các bên liên quan. II. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU. 1. Mục tiêu tổng quát của Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Phú Yên đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030: a) Từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ngành nông, lâm, thuỷ sản với các hình thức tổ chức theo chuỗi giá trị sản phẩm, ứng dụng khoa học, công nghệ kỹ thuật thích hợp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế về nông nghiệp của tỉnh gắn với xây dựng nông thôn mới. b) Tiếp tục duy trì tăng trưởng nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng sản phẩm hàng hoá chủ lực quy mô lớn về cây trồng, vật nuôi, lâm nghiệp, thuỷ sản gắn với phát triển thị trường và quy hoạch đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng và đẩy mạnh xuất khẩu. c) Nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho dân cư nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực cả trước mắt và lâu dài, góp phần xóa đói giảm nghèo. d) Tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, Huy động các nguồn lực xã hội vào phát triển nông nghiệp nông thôn. Tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên (đất sản xuất nông nghiệp, rừng, biển, nước...), giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với môi trường trong nông nghiệp nông thôn, nâng cao quản lý rủi ro, chủ động phòng chống thiên tai, dịch bệnh, bảo đảm phát triển bền vững trong lĩnh vực Nông nghiệp, nông thôn góp phần tạo nền tảng vững chắc đưa Phú Yên trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020. đ) Từ năm 2020 tiếp tục gia tăng các yếu tố tăng năng suất, tăng hiệu quả, cũng cố và phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, góp phần tạo tiền đề đưa nền kinh tế Phú Yên chuyển lên trình độ cao hơn vào khoảng cuối năm 2030. 2. Mục tiêu cụ thể đến năm 2020: a) Phấn đấu tốc độ Giá trị gia tăng (GRDP) khu vực nông, lâm, thủy sản năm 2015 tăng 3%, đạt tăng bình quân chung giai đoạn 2011 - 2015 là 4,6%; giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 3-3,5%; b) Giá trị sản xuất ngành Nông - lâm - thuỷ sản năm 2015 tăng 3,1%, bình quân giai đoạn 2011- 2015 tăng 5,2%; giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân từ 4 - 4,5%/năm; c) Đến năm 2020 cơ cấu ngành Nông- lâm- thuỷ sản: trồng trọt 38%, chăn nuôi 19%, dịch vụ nông nghiệp 4%, lâm nghiệp 2% và thuỷ sản 37% (cơ cấu ngành Nông- lâm- thuỷ sản chiếm khoảng 10 – 10,5% trong GRDP của Tỉnh); d) Ổn định sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt từ 37 vạn tấn trở lên. đ) Phấn đấu đến năm 2020: Giá trị sản phẩm thu được trên đơn vị 1ha đất trồng trọt đạt khoảng 110 triệu đồng (tăng 1,7 lần so với năm 2014); Giá trị sản phẩm thu được trên đơn vị 1ha mặt nước nuôi trồng thuỷ sản đạt khoảng 1 tỷ đồng (tăng 1,7 lần so với năm 2014); thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng lên gấp 2,8 - 3 lần so với năm 2010; tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội chiếm khoảng 40 - 45%. e) Phấn đấu đến cuối năm 2015 toàn tỉnh có từ 20 xã trở lên đạt chuẩn 19 tiêu chí nông thôn mới và đến năm 2020 có từ 65% trở lên số xã đạt chuẩn tiêu chí nông thôn mới; trên 99% dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. g) Phấn đấu nâng độ che phủ rừng đến năm 2015 đạt 39% và đến năm 2020 đạt khoảng 45%; triển khai đầy đủ các hoạt động cung ứng và chi trả dịch vụ môi trường rừng; nghiên cứu xây dựng các giải pháp bảo tồn và phát triển rừng đặc dụng; theo dõi giám sát tài nguyên rừng; 3. Các chỉ tiêu phát triển sản xuất chủ yếu gắn với tái cơ cấu a) Về trồng trọt: Giá trị sản xuất lĩnh vực trồng trọt bình quân hàng năm tăng 2,5-3%; tỷ trọng giá trị sản xuất trồng trọt (tính theo giá so sánh 2010) chiếm khoảng 38% vào năm 2020 của tổng giá trị sản xuất ngành Nông, lâm, thuỷ sản. - Phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020 sản lượng lương thực có hạt hàng năm đạt khoảng 37 vạn tấn. - Cây lúa: ổn định diện tích gieo trồng khoảng 56.500ha/năm, giữ vững sản lượng thóc đạt khoảng 34 vạn tấn/năm; - Cây bắp: 7.000ha/năm, sản lượng bình quân đạt khoảng 30.000 tấn/năm (BQ tăng 5,2%/năm). - Cây mía: 23.000ha/năm, bình quân sản lượng đạt khoảng 1,6 triệu tấn/năm (BQ tăng 0,9%/năm). - Cây sắn: khoảng 11.000 ha, bình quân sản lượng đạt khoảng 33 vạn tấn/năm (bình quân tăng 1,4%/năm). - Cây cao su: phấn đấu đến năm 2020 đạt diện tích khoảng 7.000ha, sản lượng khai thác mủ đạt khoảng 5.000 tấn (bình quân tăng 16,7%/năm). - Cây hồ tiêu: 1.000ha, sản lượng tiêu hạt thu hoạch đạt khoảng 2.000 tấn (BQ tăng 5,9%/năm). b) Về chăn nuôi: Giá trị sản xuất lĩnh vực chăn nuôi bình quân hàng năm tăng 5%; tỷ trọng giá trị sản lượng chăn nuôi (tính theo giá SS 2010) chiếm khoảng 19% vào năm 2020 của tổng giá trị sản xuất ngành Nông, lâm, thuỷ sản. - Phấn đấu đến năm 2020 đàn bò toàn tỉnh khoảng 190.000 con (tăng bình quân 0,5%/năm), trong đó đàn bò lai chiếm 70% tổng đàn (bình quân tăng 0,7%/năm). - Đàn lợn (không tính lợn sữa) khoảng 150.000 con (bình quân tăng 5,5%/năm). - Ổn định đàn gia cầm khoảng 3,5 triệu con/năm. - Sản lượng thịt hơi gia súc, gia cầm xuất chuồng hàng năm đạt khoảng 43.000 tấn (bình quân tăng khoảng 3,0%/năm). - Sản lượng trứng gia cầm hàng năm đạt khoảng 180 - 200 triệu quả. c) Về lâm nghiệp: - Giá trị sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp bình quân hàng năm tăng 8,5-9,0%; phấn đấu đến năm 2020 tỷ trọng giá trị sản lượng lâm nghiệp (tính theo giá so sánh 2010) chiếm 2% trong tổng giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thuỷ sản. - Phấn đấu 5 năm (2016 - 2020) trồng mới rừng tập trung đạt khoảng 30.000ha (bình quân mỗi năm trồng khoảng 6.000ha), trong đó: rừng PH - ĐD khoảng 700ha/năm, rừng sản xuất khoảng 5.300ha/năm; - Chăm sóc rừng trồng khoảng 15.000 ha/năm; - Khoán bảo vệ rừng phòng hộ khoảng 16.000ha/năm, rừng đặc dụng khoảng 8.300ha/năm; - Khai thác gỗ rừng trồng khoảng 150.000 m3/năm. d) Về thuỷ sản: - Giá trị sản xuất lĩnh vực thuỷ sản bình quân hàng năm tăng 5,5-6,0%; tỷ trọng giá trị sản lượng thuỷ sản (tính theo giá so sánh 2010) chiếm khoảng 37% vào năm 2020 của tổng giá trị sản xuất ngành nông - lâm - thuỷ sản; - Phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020 sản lượng thủy sản hàng năm đạt khoảng 66.500 tấn (bình quân tăng 3,2%/năm); trong đó: + Sản lượng đánh bắt hàng năm đạt khoảng 53.000 tấn (bình quân tăng 2,4 %/năm); + Sản lượng nuôi trồng hàng năm đạt khoảng 13.500 tấn (bình quân tăng 6,5%/năm). - Diện tích nuôi trồng thủy sản các loại hàng năm khoảng khoảng 3.200ha (trong đó diện tích nuôi tôm nước lợ khoảng 2.500ha). - Nuôi thủy sản bằng lồng bè hàng năm khoảng 31.000 lồng (trong đó tôm hùm khoảng 27.000 lồng). - Sản xuất giống thủy sản các loại hàng năm khoảng 2,5 tỷ con (trong đó tôm giống khoảng 2,4 tỷ post). - Tổng số tàu thuyền đánh bắt thủy sản hàng năm khoảng 5.500 chiếc, trong đó phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh có khoảng 1.700 tàu công suất từ 90CV trở lên tham gia khai thác xa bờ. III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ NỘI DUNG TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP PHÚ YÊN ĐẾN NĂM 2020. Tái cơ cấu từng lĩnh vực của ngành nông nghiệp Phú Yên được áp dụng xuyên suốt trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường theo các hướng cơ bản sau: - Tăng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi, thuỷ sản, lâm nghiệp trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, trong trồng trọt ổn định sản lượng lương thực và phát triển loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. - Tập trung phát triển các sản phẩm hàng hoá nông nghiệp chủ lực, có thị trường tiêu thụ ổn định trên cơ sở phát huy các lợi thế của từng địa phương; tăng nhanh sức cạnh tranh của các sản phẩm có lợi thế của Tỉnh, tạo ra các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung theo quy hoạch gắn với cơ sở chế biến, tiêu thụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. - Tổ chức sản xuất theo chuỗi trên cơ sở liên kết, hợp tác với nhiều hình thức đa dạng và bám sát yêu cầu thị trường; từng bước nâng cao vai trò doanh nghiệp trong chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hoá của nông dân theo hướng doanh nghiệp hoá, liên kết hoá và xã hội hoá đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; - Trong từng lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu được tái cơ cấu tập trung các nội dung về điều chỉnh quy mô theo lợi thế vùng và nhu cầu thị trường, đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao (giống, kỹ thuật canh tác, chế biến sản phẩm sau thu hoạch...) và các chính sách hỗ trợ (khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, tín dụng, xây dựng cơ sở hạ tầng...) để tăng năng suất, chất lượng, giảm chi phí, nâng cao năng lực quản lý rủi ro, thích nghi với biến đổi khí hậu. - Về chính sách hỗ trợ, tập trung áp dụng các quy định hiện hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành TW, UBND Tỉnh... trong đó nhà nước tập trung hỗ trợ về Quy hoạch sản xuất về cơ sở hạ tầng đầu mối, về nghiên cứu khoa học, về phòng chống dịch bệnh, về tín dụng ưu đãi... các doanh nghiệp tập trung ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh, xây dựng thương hiệu... 1. Trồng trọt: Trong Chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Yên đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, trồng trọt vẫn là một lĩnh vực quan trọng góp phần bảo đảm an ninh lương thực và phát triển các ngành chế biến sản phẩm sau thu hoạch. Tái cơ cấu lĩnh vực trồng trọt theo hướng chung là phát triển sản xuất quy mô lớn, tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị trên cơ sở phát huy lợi thế sản phẩm (lúa, gạo, mía, sắn, rau hoa củ quả, hồ tiêu…) và lợi thế vùng lãnh thổ. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất; thường xuyên giám sát, dự báo, quyết liệt dập tắt không để lây lan dịch bệnh trên một số cây trồng đang có thị trường tốt, nhân rộng các mô hình sản xuất tiên tiến, nhất là công tác giống, kỹ thuật canh tác, tăng nhanh tỷ lệ cơ giới hoá trong các khâu sản xuất nông nghiệp, áp dụng rộng rãi công nghệ tưới nước tiết kiệm, bảo quản, chế biến sau thu hoạch, áp dụng các quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng, giảm giá thành, thích ứng với biến đổi khí hậu, thân thiện với môi trường, an toàn VSTP nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm và nâng cao thu nhập cho nông dân. Kiến thiết lại đồng ruộng theo hướng tập trung diện tích, qui mô cánh đồng lớn, khuyến khích nông dân, chủ trang trại góp cổ phần bằng giá trị sử dụng đất, cho thuê đất, hợp tác liên kết tham gia cùng doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác vào sản xuất theo chuỗi, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh. Về chính sách, tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách và Thông tư hướng dẫn Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp. Khuyến khích các doanh nghiệp liên kết, ký hợp đồng trong sản xuất, tiêu thụ nông sản với nông dân; phát triển các nhóm nông dân hợp tác tự nguyện, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị; tăng thu nhập cho nông dân thông qua hỗ trợ tập huấn, khuyến nông nhằm hỗ trợ nông dân kỹ thuật canh tác tiên tiến gắn với cơ giới hoá nhằm giảm tối đa về chi phí giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nước tưới, công lao động để giảm giá thành, nâng cao kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch, chia sẻ bình đẳng lợi nhuận giữa nông dân, cơ sở chế biến và doanh nghiệp tiêu thụ nông sản an toàn, giảm ô nhiễm và phát thải khí nhà kính. Trong đó sản phẩm chủ lực: a. Cây lúa: Sản xuất lúa gạo thời gian qua tuy đã đạt được về sản lượng, an ninh lương thực nhưng chưa đạt về chất lượng, giảm tổn thất sau thu hoạch, thâm canh chưa bền vững và thu nhập của người trồng lúa đạt thấp. Tái cơ cấu theo hướng duy trì và sử dụng linh hoạt khoảng trên 24.000ha diện tích đất chuyên trồng lúa nước (2 vụ chính), duy trì năng suất, nâng cao thu nhập người trồng lúa và hiệu quả sử dụng đất; sản lượng lúa đạt khoảng 34 vạn tấn hàng năm. Tiếp tục vận động nông dân chuyển đổi tập quán chỉ chuyên canh sản xuất lúa ở các vùng thiếu nước, nhiễm mặn, nhất là đất lúa 1 vụ sang đa dạng trồng cây hàng năm khác hoặc nuôi trồng thuỷ sản phù hợp với đặc điểm của từng vùng và từng sản phẩm mang lại thu nhập cao hơn. Về giống và kỹ thuật, tiếp tục thay đổi cơ cấu giống, sử dụng các giống lúa thuần, lúa lai có năng suất, chất lượng, giá bán cao, giống lúa thích ứng với biến đổi khí hậu trong từng địa phương như chịu mặn, chịu hạn, phấn đấu sử dụng giống xác nhận là chủ yếu, giảm lượng giống gieo sạ/ha phù hợp. Tiếp tục phát triển thâm canh cây lúa; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất như “3 giảm, 3 tăng”, “1 phải, 5 giảm”, bón phân theo nguyên tắc 4 đúng (đúng loại, đúng lúc, đúng liều lượng và đúng cách), phòng trừ sâu bệnh theo hướng VietGAP nhằm tăng thêm năng suất và chất lượng cho cây trồng; đẩy mạnh cơ giới hoá trong các khâu sản xuất, giảm thất thoát sau thu hoạch, sử dụng hiệu quả sản phẩm phụ (rơm, rạ, trấu…). Quy hoạch vùng sản xuất lúa hàng hoá chất lượng cao (khảng 10.000ha tập trung ở các địa bàn huyện Phú Hoà, Tây Hoà, Đông Hoà…); khuyến khích tập trung tích tụ ruộng đất, liên kết, hợp tác xây dựng cánh đồng lớn; hoàn thiện cơ sở hạ tầng vùng sản xuất tập trung quy mô lớn như: giao thông, thuỷ lợi nội đồng, chỉnh trang đồng ruộng, xây dựng hệ thống kho tồn trữ, xay xác lúa gạo. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư liên kết với nông dân với tổ chức đại diện nông dân trong chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa hàng hoá. Về chính sách hỗ trợ, tập trung thực hiện các chính sách về quản lý, sử dụng đất trồng lúa theo Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; Thông tư số 47/2013/TT-BNNPTNT ngày 08/11/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn việc chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm, kết hợp nuôi trồng thuỷ sản trên đất trồng lúa. Diện tích đất trồng lúa từng địa phương thực hiện theo Kế hoạch sử dụng đất được UBND Tỉnh phê duyệt. b. Cây ngô: Hiện nay cây ngô chủ yếu là trồng phân tán, quy mô nhỏ, năng suất thấp, bị hư hỏng nhiều trong quá trình thu hoạch, chế biến, bảo quản sản phẩm, thu nhập người trồng ngô đạt thấp. Tái cơ cấu trồng ngô theo hướng tổ chức theo vùng chuyên canh lớn gắn với chế biến tiêu thụ sản phẩm. Sử dụng giống ngô lai F1 là chủ yếu, canh tác theo quy trình thâm canh, phòng trừ sâu bệnh theo hướng VietGAP, đẩy mạnh cơ giới hoá, công nghệ tưới, công nghệ sấy, hệ thống nhà kho… Hình thành các HTX, Tổ hợp tác sản xuất theo hướng cánh đồng 1 giống, 1 công nghệ, tạo sản phẩm đồng nhất, sản lượng lớn, kết nối với thị trường, nhất là các doanh nghiệp, tập đoàn FEED MILL INVIO. Phấn đấu đến năm 2020 Quy mô diện tích khoảng 7.000ha canh tác, năng suất bình quân 5-6 tấn/ha, tập trung các huyện Sông Hinh, Sơn Hoà, Tuy An, Tây Hoà, Phú Hoà. Trước mắt xây dựng mô hình chọn khoảng 500ha trên địa bàn 2 huyện Phú Hoà và Sơn Hoà để tập trung chỉ đạo rút kinh nghiệm nhân rộng phát triển cây ngô với sử dụng giống lai, biến đổi gen, ứng dụng công nghệ sấy, kho chứa bảo quản sản phẩm gắn với bao tiêu sản phẩm của doanh nghiệp. c. Cây mía: Quy mô ổn định diện tích trồng mía khoảng 23.000ha, trong đó tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch vùng nguyên liệu trồng mía được duyệt: Công ty CP Mía đường Tuy Hoà 6.000ha, năng suất bình quân 70 tấn/ha, công suất chế biến 2.500 tấn mía ngày; Công ty TNHH KCP Việt Nam 13.000ha, năng suất bình quân 70 tấn/ha, công suất chế biến 11.000 tấn mía/ngày. Ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ về các giống mới có năng suất, chất lượng cao (trên 95% diện tích vùng nguyên liệu); hình thành ít nhất 02 cơ sở chọn lọc và nhân giống mía mới đạt tiêu chuẩn thuộc các doanh nghiệp được quy hoạch vùng nguyên liệu mía, hình thành những vùng mía thâm canh với năng suất từ 100-120 tấn/ha. Áp dụng rộng rãi quy trình canh tác, phòng trừ sâu bệnh theo hướng VietGAP; phát triển nhân rộng ứng dụng cơ giới hoá vào các khâu sản xuất, mở rộng phương pháp tưới bổ sung, tưới tiết kiệm theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Các nhà máy chế biến mía đường đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất theo chuỗi, liên kết với hộ nông dân trồng mía với các tổ chức đại diện của nông dân thực hiện ký kết hợp đồng đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, thu mua, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Khuyến khích nhà máy đầu tư chế biến sau mía đường (cồn rượu, phân vi sinh, điện…). d. Cây sắn: Kéo giảm diện tích trồng sắn hiện nay xuống ở mức ổn định khoảng 11.000ha, trong đó tiếp tục xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch vùng nguyên liệu trồng sắn được phê duyệt: Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Đồng Xuân thuộc Công ty Cổ phần Nông sản thực phẩm Quãng Ngãi, diện tích 6.000ha đến năm 2015 và còn 5.000ha giai đoạn 2016-2020, năng suất 30 tấn/ha, công suất chế biến 120-320 tấn sản phẩm tinh bột/ngày. Nhà máy sản xuất tinh bột sắn Sông Hinh (Công ty Cổ phần FOCOSEV), diện tích 6.000ha, năng suất bình quân 30 tấn/ha, công suất chế biến 430 tấn sản phẩm tinh bột/ngày. Ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ về các giống mới có năng suất, chất lượng cao đạt trên 95% diện tích vùng nguyên liệu, áp dụng rộng rãi quy trình canh tác, phòng trừ sâu bệnh theo hướng VietGAP; trồng luân canh, thâm canh, phát triển cơ giới hoá vào các khâu sản xuất, từng bước mở rộng phương pháp tưới bổ sung và biện pháp kỹ thuật canh tác bền vững… Các nhà máy chế biến tinh bột sắn đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất theo chuỗi, liên kết với hộ nông dân trồng sắn với các tổ chức đại diện của nông dân thực hiện ký kết hợp đồng đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, thu mua, tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Khuyến khích nhà máy đầu tư chế biến sau tinh bột sắn (phân vi sinh, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi…). Thực hiện nghiêm về các giải pháp bảo vệ môi trường. đ. Cây cao su: Điều chỉnh quy mô diện tích trồng cây cao su còn khoảng 7.000 ha, tập trung ở các huyện Sông Hinh, Sơn Hoà, Đồng Xuân gắn với khai thác chế biến mủ cao su; Về ứng dụng khoa học công nghệ, chú trọng về giống (sản xuất đủ cung cấp giống đạt tiêu chuẩn cho nhu cầu trồng cao su), nâng cao tay nghề cho người lao động về quy trình chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh theo hướng VietGAP, kỹ thuật khai thác mủ, thu gom sơ chế vận chuyển đến nhà máy chế biến; đa dạng cây trồng, xen canh trong thời gian kiến thiết cơ bản, giảm chi phí giá thành, tăng hiệu quả kinh tế nhất là trong xu thế giá cả cao su biến động giảm ở mức thấp (1.500 USD/tấn). Về tổ chức sản xuất, hình thành các HTX, Tổ hợp tác liên kết với các nhà máy chế biến mủ cao su theo chuỗi giá trị trên địa bàn huyện Sông Hinh, huyện Sơn Hoà. Các nhà máy chế biến mủ cao su, nhất là Công ty TNHH Đặng Phúc Gia, công suất chế biến 5.000 tấn mủ cao su khô/năm tại xã EaBa huyện Sông Hinh… đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất theo chuỗi, liên kết với hộ nông dân trồng cao su với các tổ chức đại diện của nông dân, với các BQL rừng phòng hộ có diện tích cao su thực hiện ký kết hợp đồng đầu tư thu mua, tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện nghiêm về các giải pháp bảo vệ môi trường. e. Cây hồ tiêu: phát triển diện tích lên 1.000ha tập trung ở huyện Tây Hoà, Sông Hinh, Sơn Hoà. Điều tra, khảo sát xây dựng bản đồ thích nghi và đề xuất phân vùng chi tiết phát triển cây tiêu theo tiêu chuẩn Global Gap khoảng 500-600ha; sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao phù hợp với thổ nhưỡng, quy trình canh tác thâm canh, công nghệ tưới tiết kiệm, kết hợp với bón phân; đưa nhanh cơ giới hoá vào các khâu sản xuất, thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật trong chế biến. Công ty cổ phần ViNa Caphe Sơn Thành thuộc Tổng công ty Caphe Việt Nam đóng vai trò trung tâm, hỗ trợ các hộ gia đình, tổ chức đại diện của nông dân trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hồ tiêu theo chuỗi giá trị trên địa bàn tỉnh. g. Rau, hoa, củ, quả thực phẩm, cây dược liệu và nấm các loại: Tái cơ cấu tập trung sản xuất rau, hoa, quả, cây dược liệu và nấm các loại tập trung ở thành phố Tuy Hoà, huyện Tuy An, Phú Hòa và khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Phú Yên. Ưu tiên áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nhất là sử dụng giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, quy trình sản xuất thâm canh theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP), mở rộng công nghệ tưới tiết kiệm… đảm bảo an toàn thực phẩm. Phát triển các HTX, Tổ hợp tác tại các vùng rau an toàn, liên kết tạo khối lượng sản phẩm lớn, nhất là rau xanh, chuối, dưa hấu, dứa khóm… kết nối với thị trường, các siêu thị, khu công nghiệp. Thu hút các doanh nghiệp đầu tư liên kết theo chuỗi giá trị sản xuất rau, củ quả theo hướng VietGAP công nghệ cao, đóng gói, bảo quản và tiêu thụ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. 2. Chăn nuôi: Sản phẩm chăn nuôi chủ lực của tỉnh là: bò, lợn, gà, vịt… Trong Tái cơ cấu ngành chăn nuôi phát triển bền vững sẽ đạt được thông qua các biện pháp hướng dần đến chăn nuôi tập trung, cải thiện hiệu quả sử dụng thức ăn, quản lý tốt hơn việc xử lý chất thải, kiểm soát dịch bệnh, an toàn thực phẩm sau giết mổ. Chăn nuôi đem lại nguồn thu nhập và dinh dưỡng quan trọng cho nhiều hộ gia đình, vì vậy sự thay đổi đột ngột sang sản xuất quy mô lớn, tập trung sẽ có tác động xã hội bất lợi. Tuy nhiên, tăng trưởng ngành chủ yếu phải dựa vào những cơ sở sản xuất tập trung, quy mô lớn, công nghệ cao mang lại; do vậy trong giai đoạn hiện nay và tương lai gần cần Tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng: - Từng bước chuyển chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang phát triển chăn nuôi tập trung trang trại, gia trại; chuyển dần chăn nuôi từ vùng mật độ dân số cao (đồng bằng) đến nơi có mật độ dân số thấp (bán sơn địa, miền núi), hình thành phát triển các vùng chăn nuôi tập trung theo quy hoạch, xa khu dân cư; chuyển dịch cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng đàn bò lai, bò vàng, heo siêu nạc, gà, vịt siêu thịt, siêu trứng. Phấn đấu đến năm 2020 hình thành 82 vùng chăn nuôi tập trung với diện tích 4.250ha được quy hoạch; trong đó huyện Đồng Xuân 930ha (22 vùng); huyện Phú Hoà 900ha (9 vùng); huyện Sông Hinh 750ha (6 vùng)… phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và gắn với xây dựng hệ thống cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm tập tập trung, phấn đấu đến năm 2020 nâng cấp và xây dựng mới 43 điểm giết mổ tập trung, trong đó có 3 điểm giết mổ công nghiệp, bình quân mỗi đơn vị cấp huyện từ 3-5 cơ sở. - Khuyến khích áp dụng công nghệ cao, tổ chức sản xuất khép kín hoặc liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị, từ sản xuất giống, thức ăn đến chế biến, tiêu thụ để nâng cao năng suất, giảm bớt chi phí, tăng hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi. Hỗ trợ chăn nuôi nông hộ qua tập huấn, khuyến nông, tăng cường dịch vụ thú y, giám sát và kiểm soát dịch bệnh hiệu quả; phát triển hầm Biogaz nguồn năng lượng tái tạo từ phụ phẩm của ngành chăn nuôi, góp phần kiểm soát và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm đất và nước từ chất thải chăn nuôi, an toàn về môi trường. - Khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững gắn với an toàn dịch bệnh, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả. Tập trung phát triển các gia trại, trang trại và các cơ sở chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp với quy mô phù hợp. Tiếp tục phát triển mô hình trồng cỏ nuôi bò thịt thâm canh, nhân rộng một số đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, quản lý chặt chẽ các cơ sở giết mổ tập trung gắn với các địa bàn chăn nuôi đạt yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm. - Về chính sách: Tập trung thực hiện có hiệu quả Quyết định số 04/2015/QĐ-UBND ngày 27/01/2015 của UBND tỉnh về ban hành Quy định và định mức hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên giai đoạn 2015-2020. Trong đó sản phẩm chủ lực: a. Chăn nuôi bò: Đây là sản phẩm có lợi thế nhất cho chăn nuôi nông hộ hiện nay, đến năm 2020 quy mô phát triển đàn khoảng 190.000 con, trong đó bò lai chiếm hơn 70%, sản lượng thịt hơi xuất chuồng khoảng 15.000-16.000 tấn/năm; Đẩy mạnh phát triển bò lai bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo giống tốt, sử dụng bò cái nền 50% máu ngoại nhằm nâng cao thể vóc, chất lượng thịt. Mở rộng diện tích trồng cỏ bằng giống có năng suất và độ đạm cao, đảm bảo nhu cầu nuôi thâm canh; tận dụng tối đa các sản phẩm lĩnh vực trồng trọt làm thức ăn chăn nuôi. Chuyển dần chăn nuôi kiêm dụng sang chăn nuôi thâm canh chuyên thịt, áp dụng quy trình vỗ béo trước khi giết thịt. Phát triển hình thức nuôi thâm canh nông hộ, gia trại gắn với an toàn kiểm soát dịch bệnh, hướng tới liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị, kết nối với thị trường tiêu thụ; thông qua doanh nghiệp liên kết, tư thương thu mua, giết mổ tại các cơ sở giết mổ tập trung, tiêu thụ ở các chợ, siêu thị, hoặc ngoài Tỉnh, nhất là thành phố Đà Nằng, thành phố Hồ Chí Minh. b. Chăn nuôi lợn: Duy trì phát triển đàn lợn đến năm 2020 khoảng 150.000 con (không tính lợn sữa) hướng tới nuôi công nghiệp (suất chuồng 3-4 lần/năm), sản lượng thịt hơi xuất chuồng khoảng 19.000-20.000 tấn/năm. Về giống: bình tuyển, chọn lọc đàn heo nái sinh sản và heo đực giống đủ tiêu chuẩn phẩm cấp giống. Nâng dần tỷ lệ heo lai hướng nạc, phấn đấu đến năm 2020 đạt trên 90% so với tổng đàn. Phát triển các giống có năng suất chất lượng thịt (nạc cao, thơm ngon, gốc thuần ông bà, tỷ lệ máu ngoại hơn 50%...), có nguồn gốc lý lịch rõ ràng cung ứng cho sản xuất. Chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghê, kỹ thuật tiên tiến trong chăn nuôi (chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng bệnh, nuôi an toàn sinh học...) đến bà con nông dân để ứng dụng vào sản xuất; từng bước thực hiện quy trình chăn nuôi tốt nhằm đảm bảo năng suất, chất lượng và an toàn thực phẩm. Về tổ chức sản xuất, hướng đến xã hội hoá khâu sản xuất cung ứng giống lợn; tiếp tục phát triển các trang trại có quy mô vừa, liên kết với doanh nghiệp cung cấp giống, thức ăn và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị. Đối với chăn nuôi nông hộ hướng tới chăn nuôi bảo đảm VSAT dịch bệnh, sử dụng đệm lót sinh học, vận hành hầm Bioga, bảo vệ môi trường gắn với mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Tổ chức phát triển theo hướng Tổ hợp tác chăn nuôi, cộng đồng làng xã chăn nuôi, tạo ra sản phẩm lớn kết nối thị trường, nhà máy chế biến hoặc cơ sở giết mổ tập trung tiêu thụ ở các chợ, siêu thị, tiêu thụ ngoài Tỉnh. c. Chăn nuôi gia cầm: Là đối tượng có tiềm năng lợi thế của tỉnh về cung cấp thịt, trứng cho nhu cầu tiêu dùng. Ổn định đàn gia cầm khoảng 3,5 triệu con; sản lượng thịt gia cầm đạt 8.000-9.000 tấn/năm, sản lượng trứng khoảng 180-200 triệu quả/năm vào năm 2020. Về giống, chọn lọc, nâng cao chất lượng giống gia cầm phù hợp với chăn nuôi địa phương. Thu hút đầu tư các cơ sở sản xuất và cung cấp giống (du nhập, chọn lọc, nhân thuần các giống gia cầm, các giống vật nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao...) nâng tỷ lệ giống vịt thuần đạt trên 80%, giống gà thuần thả vườn đạt trên 50% so với tổng đàn. Tiếp tục hoàn thiện và áp dụng các quy trình kỹ thuật chăn nuôi an toàn sinh học, sử dụng thức ăn chủ yếu từ nguyên liệu sản xuất được trong tỉnh, chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh và xử lý môi trường. Về Tổ chức sản xuất, nhân rộng mô hình nuôi liên kết với doanh nghiệp, phát triển chăn nuôi gia cầm trang trại, gia trại thả vườn, đồi... an toàn sinh học. Phát triển hệ thống tư thương thu mua, kết nối với các chợ, siêu thị trong tỉnh và thị trường ngoài tỉnh để tiêu thụ sản phẩm thịt, trứng gia cầm cho nông dân. d) Tiếp tục phát triển nhân rộng các đối tượng vật nuôi khác có giá trị kinh tế cao gắn với thị trường tiêu thụ như dê, nai, heo rừng lai... 3. Thuỷ sản: Thuỷ sản được xác định là lĩnh vực mũi nhọn còn nhiều tiềm năng phát huy lợi thế so sánh của tỉnh; vì vậy cần duy trì tốc độ tăng trưởng cả nuôi trồng, khai thác và chế biến, xây dựng ngành thuỷ sản theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường. Tái cơ cấu lĩnh vực thuỷ sản theo hướng: a. Nuôi trồng thuỷ sản: Tái cơ cấu nuôi trồng thuỷ sản theo hướng phát triển bền vững gắn vai trò của nhà nước với sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân trong việc thực hiện quy hoạch và quản lý vùng nuôi an toàn dịch bệnh, an toàn môi trường và an toàn thực phẩm. Nhà nước tập trung phát triển các công trình hạ tầng đầu mối phục vụ vùng nuôi trồng tập trung (Hạ lưu Sông Bàn Thạch- huyện Đông Hoà, đầm Cù Mông- vịnh Xuân Đài- xã Xuân Lộc- Thị xã Sông Cầu, xã Xuân Hải- huyện Tuy An…), dịch vụ thú y, giám sát môi trường nuôi.