06:38 Thứ sáu, 19/01/2018

Mô hình cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa tại tỉnh Phú Yên

Đăng lúc: Thứ tư - 13/11/2013 02:52 - Người đăng bài viết: minhnhat
Phú Yên là một tỉnh nông nghiệp với diện tích lúa hàng năm khoảng 57.000 ha, được gieo trồng 3 vụ, trong đó 02 vụ sản xuất lúa chính đó là Đông xuân và Hè thu (50.000 ha). Diện tích cây lúa chiếm tỷ trọng lớn trong nền nông nghiệp nói chung và trong sản xuất trồng trọt nói riêng.
Cây lúa cung cấp hầu hết nhu cầu lương thực cho xã hội. Trong năm 2012, diện tích lúa gieo trồng cả năm ước đạt 57.140 ha, năng suất bình quân 60,3 tạ/ha; sản lượng đạt 344.700 tấn, tăng 0,1% với năm 2011, trong đó vụ Đông xuân 2011-2012: Diện tích lúa gieo sạ đạt 26.345 ha, năng suất đạt 63,2 tạ/ha; sản lượng đạt 166.600 tấn, tăng 6,2% tương đương 9.700 tấn so với vụ Đông Xuân năm trước. Vụ Hè thu 2012: Diện tích lúa gieo sạ đạt 24.549 ha, năng suất đạt 64,5 tạ/ha; sản lượng đạt 158.400 tấn, giảm 5,3% tương đương 8.800 tấn so với vụ Hè thu 2011. Vụ mùa 2012: Diện tích gieo trồng 6.200 ha; năng suất 31,5 tạ/ha, sản lượng đạt 19.700 tấn, giảm 2,0% so với vụ mùa năm 2011; vụ Đông xuân năm 2012-2013, diện tích lúa gieo sạ đạt 26.350 ha, đạt 67 tạ/ha, sản lượng đạt 176.545 tấn.

Bộ giống lúa gieo sạ chủ lực của tỉnh: ML213, ML216, ML68, ML4-2, ML48, ML49, ML202, ML211, TH6… Một số địa phương đã mạnh dạn đưa một số giống lúa lai, các giống lúa mới, phù hợp với từng tiểu vùng vào gieo sạ, năng suất đạt từ 70- 75 tạ/ha. Nhìn chung các huyện, thành phố đã bố trí cơ cấu giống lúa chủ yếu nhóm giống ngắn và trung ngày có năng suất cao.

II. Mô hình cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa 
 

Mô hình cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa tại HTX Hòa An Tây, huyện Phú Hòa


Thực hiện theo chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp gắn liền với xây dựng nông thôn mới. Trong hai năm 2012-2013, Trung tâm Khuyến nông -Khuyến ngư Phú Yên đã triển khai thực hiện mô hình cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa, là nơi áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới: 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm, cánh đồng 1 giống, cánh đồng lúa chất lượng… áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp kể cả đầu tư cơ giới và thủy lợi. Mô hình mang ý nghĩa cánh đồng mẫu lớn nhưng trong đó có nhiều nông dân nhỏ, là một hình thức mới để tập hợp nông dân trong điều kiện sản xuất hiện nay.  

Với mục tiêu chung của mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” là áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật  trên một diện tích lớn, rút ngắn khoảng cách  chênh lệch về năng suất giữa các hộ nông dân, các thửa ruộng, nâng cao năng suất bình quân trong toàn vùng, nâng cao chất lượng lúa, gạo. Xây dựng mô hình “cánh đồng mẫu” tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất lúa hàng hóa thông qua liên kết bốn nhà , đưa giá trị tăng từ 1,2-1,3 lần so với cây lúa đại trà. Từng bước điều chỉnh tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu theo hướng GAP, xác định bộ giống xuất khẩu cho từng cánh đồng có quy mô diện tích phù hợp với cánh đồng mẫu lớn, có khả năng đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng từng bước hình thành tập quán, hình thức sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung.

Mô hình cánh đồng mẫu bắt đầu khởi động triển khai thí điểm vụ Hè thu 2012 và Đông xuân 2012-2013 tại xã Hòa Kiến, TP Tuy Hòa và Hòa Trị, huyện Phú Hòa, với tổng diện tích đã thực hiện là 80ha (mỗi điểm thực hiện 20ha/vụ) với 468 lượt hộ nông dân tham gia, kết quả thu được như sau:

Nhờ việc sạ lúa theo hàng với lượng giống ít (6kg/sào) đã góp phần giúp nông dân tiết kiệm lượng phân bón, làm cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt hơn, cây lúa đẻ nhánh khỏe, hạn chế việc sử dụng thuốc BVTV, từ đó góp phần nâng cao năng suất và tăng hiệu quả kinh tế.

Năng suất bình quân của giống VND 95-20 vụ Hè thu năm 2012 đạt 63 tạ/ha, vụ Đông xuân năm 2012-2013 đạt trên 75 tạ/ha, riêng giống PY2 đạt trên 75tạ/ha và giống ML213 đạt trên 80 tạ/ha ở cả 2 vụ, cao hơn đối chứng từ 1-12 tạ/ha. Một số hộ đầu tư chăm sóc tốt có năng suất vượt trội cao hơn năng suất bình quân của mô hình từ 7-10 tạ/ha, như hộ Huỳnh Tấn Quân, Bùi Đắc Dung (Hòa Kiến); Nguyễn Thị Siêng, Lương Công Thủ (Hòa Trị).

Sau khi tính toán hiệu quả kinh tế giữa lúa làm mô hình và lúa đối chứng, cho thấy chi phí lúa mô hình thấp hơn chi phí lúa đối chứng chủ yếu về chi phí phân bón, chăm sóc, thu hoạch.... Riêng phân bón, mô hình thực hiện đúng yêu cầu kỹ thuật, còn lúa đối chứng chủ yếu bón tập trung thiên nhiều về phân Đạm, ít chú trọng đến việc bón cân đối hàm lượng N, P, K nên cây sinh trưởng và phát triển kém, không đồng đều. Mặt khác, vào thời kì trổ đòng, nông dân thường bón ít kali nên tỉ lệ lép cao, dễ đổ ngã, nên năng suất cuối cùng thấp.

Giống VND 95-20 từ giai đoạn cuối đẻ nhánh đến ngậm sữa, góc giữa lá và thân hẹp nên bộ lá đứng, khả năng quang hợp tốt, không ảnh hưởng khi gió Tây nam hoạt động mạnh, nhưng thóc đóng thưa. Giai đoạn lúa trỗ - vào chắc bị mưa to kèm theo gió lốc xoáy (vụ hè thu) nên một số diện tích bị đỗ ngã hoàn toàn ảnh hưởng nhiều đến năng suất.

Giống ML213 và PY2 là 02 loại giống thích hợp với điều kiện thời tiết khí hậu ở Phú Yên, đặc biệt là xã Hòa Trị thực hiện hình. Năng suất của 02 giống ML213 và PY2 rất cao cụ thể như ML213 năng suất đạt 80 tạ/ha, PY năng xuất đạt trên 75 tạ/ha.

Mô hình đã bước đầu cho bà con nông dân thấy được hiệu quả của việc sử dụng giống đạt chất lượng, dần dần tạo niềm tin cho bà con nông dân ứng dụng KHKT trong việc sản xuất lúa. Góp phần vào việc sử dụng lúa giống có nguồn gốc rõ ràng để sản xuất, hạn chế dùng lúa thịt để gieo sạ.

Trong vụ Hè thu 2013, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tiếp tục xây dựng mô hình cánh đồng mẫu sản xuất lúa với các giống lúa chất lượng tại 03 điểm xã Hòa An, huyện Phú Hòa, xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa và xã Xuân Quang 3, huyện Đồng Xuân (mỗi điểm trình diễn 10ha). Mô hình cánh đồng mẫu lần đầu tiên được đưa về triển khai để nhân rộng tại xã miền núi huyện Đồng Xuân nhằm tạo ra lợi nhuận cao nhất cho người nông dân.

Nông dân tham gia mô hình được tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, được nhà nước hỗ trợ giống, vật tư phân bón theo định mức của khuyến nông quy định, cụ thể 100% giống và 30% phân bón và thuốc BVTV cho các xã đồng bằng và 100% giống, 50% phân bón, thuốc BVTV cho các xã bãi ngang, miền núi.

Giống đưa vào thực hiện mô hình là giống cấp xác nhận như: TBR36, TBR45, HT1, PY2, VND95-20, ML213…

Theo kết quả đánh giá ban đầu, tại điểm trình diễn Hòa Xuân Tây 2- Đông Hòa, năng suất thu được đạt 60 tạ/ha, tương đương năng suất đối chứng. Với giá bán cao hơn đối chứng 700 đồng/kg, lãi cao hơn đối chứng khoảng 3.000.000 đồng/ha.

Mô hình cánh đồng mẫu là một chương trình mang tính kế thừa và định hướng lâu dài, một mặt vừa tăng cường tuyên truyền vận động nông dân sạ lúa theo hàng để cho hiệu quả kinh tế cao, mặt khác tăng giảm chi phí đầu tư, tăng nhu cầu sử dụng lúa giống cấp xác nhận, nguyên chủng chuyển dần và đi đến bỏ hẳn tập quán sử dụng lúa thương phẩm làm giống và tạo tiền đề tiến tới sản xuất lúa chất lượng hàng hóa.

Trong mô hình cánh đồng mẫu  đã sử dụng kỹ thuật canh tác lúa theo hệ thống thâm canh cải tiến (System of Rice Intensification -SRI) có nguyên tắc cơ bản là không thường xuyên giữ nước ở chân ruộng như cách trồng lúa nước truyền thống, làm giảm thiểu lượng khí thải độc hại thoát ra từ đồng ruộng. Đồng thời, phương thức này cũng giúp cây lúa mọc khỏe và cho năng suất cao, tiết kiệm giống, tiết kiệm nước tưới, giảm thiểu việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đồng nghĩa với việc giảm chi phí đầu tư cho nông dân. 
Mô hình hướng đến liên kết giữa 4 nhà, ban đầu Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư đã liên kết với doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào như: Công ty CP Phân bón Bình Điền, Công ty CP phân bón và Hóa chất Dầu khí Miền Trung, Công ty TNHH Syngenta Việt Nam để hỗ trợ vật tư cho nông dân, cung cấp vật tư với chất lượng tốt, giá cả hợp lý (hỗ trợ phí vận chuyển) đồng thời tư vấn kỹ thuật cho nông dân, giúp nông dân yên tâm sản xuất.

Bên cạnh những thành công, mô hình cánh đồng mẫu lớn bước đầu còn gặp một số khó khăn nhất định như: diện tích canh tác lúa đã nêu trên, việc xây dựng manh mún, diện tích bình quân trên hộ/thửa rất nhỏ, chỉ từ 500 -1.000 m2 nên rất khó khăn trong khâu vận động, tuyên truyền, tập hợp nông dân để xây dựng cánh đồng mẫu lớn đúng theo tiêu chí về qui mô diện tích. Thêm vào đó, nông dân quen với tập quán sản xuất các giống lúa có năng suất cao chứ chưa chú trọng đến chất lượng, mặt khác giá cả của các giống lúa có chất lượng cao và chưa ổn định, giá cả hoàn toàn phụ thuộc vào thương lái.

Nguồn giống chất lượng cao trong tỉnh rất khan hiếm, phải du nhập từ các tỉnh khác nên cần phải thông qua khảo nghiệm, trình diễn mới có thể lựa chọn bộ giống phù hợp.  
Mối liên kết bốn nhà vẫn chưa được hoàn thiện, chưa có doanh nghiệp tham gia tiêu thụ sản phẩm nên chưa hoàn thiện được mô hình sản xuất khép kín.

Nhằm đánh giá chính xác khả năng thích hợp của các giống lúa mới tại địa phương từ đó làm cơ sở để chọn giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đưa vào sản xuất, nâng cao hiệu sản xuất lúa, trong những năm gần đây, được sự chỉ đạo Sở Nông nghiệp &PTNT Phú Yên, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư triển khai thực hiện đã trình diễn,  khảo nghiệm một số giống lúa mới, kết quả đạt được như sau:

- Giống lúa TBR36, TBR45, TBR228, TBR225... của Tổng Công ty Giống cây trồng Thái Bình lần lượt được triển khai khảo nghiệm tại các địa phương sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh như các huyện Tuy An, Đông Hòa, Phú Hòa, Tây Hòa và TP Tuy Hoà.. Đây là những giống lúa thuần có năng suất cao, chất lượng gạo tốt. Qua đánh giá của nông dân đây là giống có năng suất cao, trung bình đạt trên 70 tạ/ha, Tiêu biểu có hộ đạt trên 80 tạ/ha. Bên cạnh đó đây cũng là các giống lúa chất lượng, rất được nhiều bà con đăng ký tham gia vào những vụ tiếp theo. Qua theo dõi, đánh giá, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư cũng đã chọn giống TBR45 để đưa vào mô hình cánh đồng mẫu sản xuất lúa chất lượng trong vụ hè thu 2013.

Nông dân tham quan mô hình cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa
tại HTX Hòa Xuân Tây 2, huyện Đông Hòa

- Bên cạnh đó, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư phối hợp với Tổng công ty Giống cây trồng và con nuôi Ninh Bình trình diễn khảo nghiệm giống lúa thuần Hoa Ưu 109, MT18 tại các HTXNN trong tỉnh. Giống lúa Hoa Ưu 109 có nhiều ưu thế như: Bông to, lá đứng, nhiều hạt, hạt sếp xít, dạng cây gọn, đẻ nhánh khỏe. Bước đầu cho thấy khả năng chống chịu sâu bệnh và ngoại cảnh tốt. Năng suất cao và ổn định tại các vùng sinh thái khác nhau. Chất lượng gạo trắng, trong, cơm mềm và ngon, càng để lâu càng ngon. Thời gian sinh trưởng vụ Đông Xuân 100-105 ngày và vụ Hè Thu 90-93 ngày. Giống đã được khảo nghiệm, sản xuất thử ở nhiều vùng sinh thái khác nhau từ vùng núi phía Bắc như Lạng Sơn, Tuyên Quang… cho đến các tỉnh ven biển miền trung như Bình Định, Phú Yên… Qua đánh giá  ban đầu đây là giống có năng suất tương đối cao và có khả năng chống chịu tốt, năng suất trung bình tại điểm trình diễn xã Hòa Thịnh đạt 75 tạ/ha, tiêu biểu hộ đạt trên 80 tạ/ha.

Một số giống lúa lai cũng được đưa vào khảo nghiệm như: SYN6, Đắc Ưu 11 của Công ty CP vật tư Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Giang phân phối, Giống lúa lai Xuyên Hương 178 do Công ty CP Giống Cây trồng Miền Nam phân phối tại các tại các huyện trọng điểm lúa như huyện Tuy An, Sông Hinh, Đồng Xuân, Tây Hòa, TP Tuy Hòa và Phú Hòa.

Kết quả cho thấy giống Syn6 có số hạt chắc trên bông lớn, khả năng nuôi hạt rất tốt, tỷ lệ lép thấp hơn so với các giống lúa thuần khác trong cùng khu vực cùng thời kỳ trỗ từ 5-10%. Năng suất thực thu của Syn6 cao hơn các giống lúa thuần từ 10-15 tạ/ha, đây là giống lúa lai có năng suất cao trên địa bàn tỉnh ta.

Giống lúa lai Đắc ưu 11 có khả năng thích ứng rộng. Năng suất đạt 80,9 tạ/ha và đây là giống có khả năng chống chịu một số sâu bệnh hại.

Giống Xuyên Hương  178 năng suất đạt 78 tạ/ha.

Trên đây là những giống lúa được đánh giá có chất lượng, phát triển khá tốt và phù hợp với điều kiện sinh thái tại tỉnh nhà, việc đưa vào khảo nghiệm các giống mới, cũng như tạo điều kiện cho bà con học tập từng vụ, từng năm đã từng bước nâng cao nhận thức trong nông dân, nhằm hướng đến chuyển đổi cơ cấu giống, tăng năng suất, chất lượng lương thực, góp phần vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo, đem lại lợi ích cho bà con nông dân, từng bước đưa một số giống chất lượng, năng suất cao và lúa lai vào sản xuất đại trà, sẽ giúp bà con nông dân có thói quen canh tác tiến bộ hơn. Trong những năm tiếp theo, Trung tâm tiếp tục triển khai, nhân rộng ra nhiều địa phương khác, đặc biệt là những xã miền núi, vùng sâu, vùng xa xứng đáng với vai trò tiên phong trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và luôn là người bạn đồng hành cùng với bà con nông dân.

III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN

- Về Quy hoạch vùng sản xuất lúa chất lượng: Ngành Nông nghiệp sẽ đưa quy hoạch các vùng sản xuất lúa chất lượng vào Quy hoạch Tổng thể ngành Nông nghiệp trong thời gian đến. Trước mắt các vùng sản xuất Xây dựng cánh đồng lúa Tuy Hòa chất lượng cao.

- Giải pháp về công tác tuyên truyền, vận động, hướng dẫn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa. Tăng cường công tác chuyển giao TBKT, tập huấn cho nông dân về quy trình sản xuất lúa chất lượng, áp dung các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến. Xây dựng mô hình điểm để nông dân tham quan học tập, tổ chức hội thảo để phổ biến nhân rộng sau khi kết thúc mô hình.

- Du nhập, khảo nghiệm các giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt tại các vùng sinh thái trong tỉnh  qua đó tìm ra các giống lúa có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tại địa phương, góp phần làm phong phú thêm bộ giống lúa 

IV- KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách tam nông, dồn điền đổi thửa tích tụ ruộng đất, nâng qui mô thửa tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng cơ giới hóa, xây dựng vùng sản xuất lúa hàng hóa.

Đề nghị Sở Nông nghiệp&PTNT và UBND tỉnh sớm có chính sách hỗ trợ các địa phương và nông dân tham gia thực hiện “Cánh đồng mẫu trong sản xuất lúa” theo mô hình liên kết 4 nhà (Nhà nước, Nhà khoa học, nhà Doanh nghiệp và Nhà nông). Tạo điều kiện đầu tư, xây dựng nhà máy chế biến lúa gạo, phục vụ tiêu dùng nội tỉnh và tham gia thị trường xuất khẩu.

Các Bộ ngành, UBND tỉnh xem xét các chính sách về việc hỗ trợ nông dân kinh phí mua giống lúa chất lượng để sản xuất, thay đổi thói quen sử dụng lúa thịt làm giống bằng việc mua lúa giống đạt tiêu chuẩn cho sản xuất mô hình cánh đồng mẫu.

Đầu tư, hỗ trợ nâng cao cơ sở vật chất, trang thiết bị đối với các Trạm, Trại nghiên cứu giống lúa phục vụ cho sản xuất lúa tại các địa phương trên địa bàn tỉnh.

Các doanh nghiệp, đơn vị cung ứng giống tăng cường phối hợp hỗ trợ cho nông dân tham gia trình diễn khảo nghiệm giống lúa năng suất cao, xây dựng mô hình điểm cho nông dân tham quan học tập.

Tăng cường công tác thương mại, tìm kiếm thị trường cho sản phẩm, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa sản phẩm lúa gạo Phú Yên; khuyến khích nông dân tham gia Tổ hợp tác, Hợp tác xã để có đủ điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm./.
 
Tác giả bài viết: KS. Nguyễn Đình Nhơn - Giám đốc Trung tâm KN-KN
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết