05:58 Thứ bảy, 16/12/2017

Một số mô hình khuyến nông, khuyến ngư đạt hiệu quả cao năm 2014

Đăng lúc: Thứ tư - 18/02/2015 01:59 - Người đăng bài viết: minhnhat
Thực hiện theo chủ trương, định hướng của ngành nông nghiệp, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư phối hợp với các đơn vị xây dựng và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi; đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến chuyển giao khoa học kỹ thuật, đặc biệt là chú trọng mở rộng các chương trình, mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao đã được triển khai từ nhiều năm qua, cụ thể:
     1-Trồng trọt:
     Mô hình cánh đồng mẫu lớn trong sản xuất lúa chất lượng: Ứng dụng tiến bộ khoa hoạc kỹ thuật như: 3 giảm 3 tăng, 1 phải 5 giảm; sử dụng các giống lúa chất lượng cao, năng suất tương đương hoặc cao hơn đối chứng từ 5-10 tạ/ha vào sản xuất. Để mô hình tiếp tục duy trì và mở rộng, Trung tâm đề xuất ngành cần xây dựng thương hiệu sản phẩm và có đơn vị bao tiêu đầu ra sản phẩm, sản xuất theo đơn đặt hàng, theo từng giống cụ thể do đơn vị bao tiêu sản phẩm yêu cầu. Những năm đầu có thể sản xuất với một bộ giống lúa chất lượng cao với khoảng 5 - 6 giống; Quy hoạch vùng sản xuất lúa chất lượng cao tập trung; Hỗ trợ cơ giới hóa trong khâu thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch; Xây dựng mô hình trình diễn các giống lúa chất lượng cao và khảo nghiệm giống lúa mới chất lượng cao.

 

     Mô hình thâm canh bắp lai: Sử dụng các loại giống bắp lai mới, có năng suất cao, áp dụng quy trình thâm canh bắp lai có tưới. Đây là mô hình có hiệu quả cao và có khả năng nhân rộng, đặc biệt là khu vực miền núi. Để duy trì, nhân rộng, Trung tâm đề xuất ngành cần quy hoạch vùng sản xuất thâm canh bắp lai theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chuyển các diện tích trồng lúa kém hiệu quả, thiếu nước sang SX bắp lai; Có chính sách khuyến nông vào công đoạn sau thu hoạch, đầu tư hệ thống sấy khi đã có vùng nguyên liệu.

     Mô hình thâm canh mía, ứng dụng cơ giới hoá vào sản xuất: Mô hình đã áp dụng cơ giới hóa từ khâu làm đất, trồng, chăm sóc và bón phân cho mía bằng các loại máy chuyên dùng: trồng hàng đôi, khoảng cách giữa 02 hàng mía từ 1,6m -1,8m, khoảng cách hàng kép 30-40 cm để thuận tiện trong bón phân, chăm sóc. Sử dụng giống mới có năng suất cao, chữ đường cao: KK3, K95-156, K88-65. Năng suất đạt từ 80 tấn/ha -100 tấn/ha. Lợi nhuận của mô hình đạt: 25.519.000 đồng/ha, cao hơn đối chứng: 11.710.000 đồng/ha. Trong thời gian đến, Trung tâm đề xuất các giải pháp, duy trì nhân rộng như: Quy hoạch vùng sản xuất thâm canh, ứng dụng cơ giới hoá vào các khâu làm đất, trồng, chăm sóc và thu hoạch; Xây dựng quy trình sản xuất mía có nước tưới để nâng cao năng suất, chất lượng và chữ đường; Có chính sách hỗ trợ vốn cho nông dân mua máy, móc thiết bị phục vụ cho sản xuất; Hỗ trợ cho nông dân xây dựng nhiều mô hình điểm để tham quan, học tập để nhân rộng.

     2. Chăn nuôi:           
     Chăn nuôi bò vỗ béo: Trung tâm đã hướng dẫn nông dân sử dụng quy trình kỹ thuật mới, sử dụng thức ăn tinh kết hợp với thức ăn xanh; đặc biệt, tận dụng phụ phế phẩm trong sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp sẵn có tại địa phương, tăng hiệu quả và giá trị chăn nuôi bằng việc tăng khối lượng và chất lượng thịt, cụ thể tăng trọng bình quân: 800–1.000 gam/con/ngày sau 3 tháng nuôi vỗ béo.

     Chăn nuôi gà thịt an toàn sinh học: Sử dụng quy trình kỹ thuật mới, áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới chăn nuôi an toàn sinh học như: con giống, quy trình về sát trùng, vệ sinh chuồng trại, quản lý thức ăn, nước uống, tạo sản phẩm chăn nuôi an toàn, không ảnh hưởng tới môi trường xung quanh; trọng lượng xuất chuồng trên 2 kg/con, tỷ lệ nuôi sống đạt 96%; tiêu tốn thức ăn dưới 2,8 KGTA/KGTT.

    Chăn nuôi heo thịt đảm bảo vệ sinh mô trường có sử dụng đệm lót sinh học: Sử dụng men BALASA N01 đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo triển khai trên toàn quốc. Tuy mới triển khai năm đầu tiên nhưng hiệu quả đã thấy rõ, đã được nông dân đồng tình hưởng ứng nhân rộng, khả năng phát huy tốt trong tương lai. Đây là mô hình rất hiệu quả trong chăn nuôi heo, vừa tiết kiệm được thời gian, chi phí chăn nuôi nhưng vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cho gia đình. Đặc biệt, heo không phải tắm rửa nhưng đàn heo vẫn phát triển khỏe mạnh, da thịt bóng hồng, ít bệnh, không còn xuất hiện ruồi nhặng và giảm thiểu một cách hiệu quả mùi hôi bốc ra từ chuồng nuôi, không còn gây phiền hà cho những hộ lân cận. Trước tình hình diễn biến của dịch bệnh ngày càng tăng và giá thức ăn cũng như giá heo hơi luôn có nhiều biến động, gây không ít khó khăn cho người chăn nuôi, thì mô hình đệm lót sinh học được xem là một mô hình thích hợp, giúp người chăn nuôi tiết kiệm được nhiều chí phí đầu tư, phù hợp với định hướng phát triển chăn nuôi bền vững và góp phần thực hiện tiêu chí về vệ sinh môi trường của Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới.

 

     Chăn nuôi vịt sinh sản an toàn sinh học: Mô hình sử dụng giống Khalycambell có nguồn gốc rõ ràng và được chọn lọc. Áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, tiêm phòng đầy đủ các loại vắcxin theo định kỳ, vệ sinh sát trùng chuồng trại, quanh khu vực chăn nuôi theo đúng quy định. Mô hình đạt các chỉ tiêu kỹ thuật, lợi nhuận bình quân là 38.000.000đ/500con/hộ nuôi sau 18 tháng nuôi. Mô hình này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội, góp phần bảo vệ môi trường, cung cấp sản phẩm có chất lượng, đáp ứng yêu cầu thị trường và an toàn cho người tiêu dùng nhờ áp dụng theo quy trình chăn nuôi an toàn sinh học. Hơn nữa, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch cúm gia cầm thì việc phát triển mô hình nuôi theo hướng an toàn sinh học nhằm đảm bảo sức khỏe cho người nuôi, giảm tình trạng nuôi thả lan, hạn chế rủi ro, lây lan dịch bệnh, tỷ lệ nuôi sống cao. Đây là mô hình rất thiết thực, cần nhân rộng nhằm phát triển kinh tế hộ gia đình, tạo sự ổn định trong chăn nuôi, phát huy tiềm năng sẵn có tại địa phương, góp phần giải quyết việc làm cho người dân.

     Giải pháp, duy trì nhân rộng: Tập huấn, hướng dẫn quy trình kỹ thuật mới trong chăn nuôi, xử lý chất thải, hạn chế dịch bệnh lây lan khó quản lý do chăn nuôi vịt chạy đồng; xây dựng mô hình trình diễn để nông dân tham quan, học tập nhân rộng mô hình; có sự phối hợp giữa người chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm. Trước mắt thực hiện theo chính sách nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015 – 2020, theo Quyết định số 50/2014/QĐ – TTg, ngày 04/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ.

     3-Khuyến ngư
     Mô hình cá rô đầu vuông: Mô hình chọn giống cá đạt chuẩn, được kiểm dịch trước khi thả nuôi; Thức ăn được phối hợp giữa thức ăn công nghiệp và thức ăn chế biến tại hộ gia đình; cán bộ kỹ thuật theo dõi và thường xuyên hướng dẫn người dân phòng một số bệnh thường gặp. Mô hình đạt các chỉ tiêu kinh tế đề ra: tỷ lệ sống đạt 70%; cở thu hoạch 5-12 con/kg; năng suất đạt 60 tạ/ha; lãi bình quân là 70.000.000đ/ha. Ngoài ra, mô hình đã giới thiệu đối tượng nuôi mới phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi ở địa phương. Mô hình cá rô đầu vuông mang lại lợi ích cho người dân, tận dụng diện tích mặt nước hiện có để nâng cao chất lượng bữa ăn, tăng thu nhập cho gia đình.

     Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng an toàn sinh học theo hướng VietGAP: Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng an toàn sinh học theo hướng VietGAP được triển khai thực hiện tại xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Quy mô 0,88 ha. Mô hình đã hỗ trợ cho các hộ nuôi con giống sạch bệnh SPF với mật độ 60 con/m2, cỡ giống PL15 và một phần chi phí thức ăn trong quá trình nuôi. Mô hình đạt các chỉ tiêu đề ra: tỉ lệ sống đtạ từ 78,4%- 88,3%; cỡ tôm thu hoạch 67-87 con/kg; năng suất đạt 5,4-7,9 tấn/ha; Mô hình đã giới thiệu phương thức nuôi tôm thẻ chân trắng mới, có hiệu quả trong việc hạn chế dịch bệnh. Trong phương thức nuôi mới này, bên cạnh ao nuôi, việc sử dụng ao ương và ao lắng được chú trọng; mô hình đã khuyến khích người dân kiểm dịch con giống; các cơ quan chức năng thực hiện việc thu mẫu môi trường thường xuyên để phân tích, đánh giá và cảnh báo sớm dịch bệnh.

     Mô hình máy dò ngang trên tàu khai thác hải sản xa bờ: Máy dò ngang là thiết bị phục vụ khai thác mới, tiên tiến và hiện đại. Khi trang bị ngư dân có thể phát hiện đàn cá từ xa, thuyền trưởng có thể ước lượng được mật độ, trử lượng và hướng di chuyển của đàn cá, chủ động khai thác ban ngày và ban đêm, giúp thuyền trưởng quyết định có các quyết định hợp lý nhất trong quá trình khai thác... Mô hình ứng dụng máy dò ngang trên tàu khai thác hải sản xa bờ được triển khai thực hiện từ năm 2011 – 2013.Kết quả sản lượng khai thác của mỗi chuyến biển tăng rõ rệt từ 1,6 – 1,85 lần so với trước khi sử dụng máy máy dò ngang,  thời gian chuyến biển giảm, hiệu quả kinh tế của mỗi chuyến biển, thu nhập của chủ tàu và thủy thủ đều tăng. Các hộ tham gia mô hình tích cực tham gia vận động ngư dân chuyển đổi cơ cấu nghề khai thác từ tuyến lộng, gần bờ ra tuyến khơi, vận động ngư dân trang bị máy dò ngang để nâng cao hiệu quả khai thác.

 

     Giải pháp, duy trì nhân rộng: Tiếp tục tập huấn, hướng dẫn quy trình kỹ thuật mới; Hỗ trợ nông dân xây dựng mô hình trình diễn. Tổ chức cho nông dân trong Tỉnh tham quan, học tập nhân rộng mô hình; Ngành và các địa phương lập quy hoạch vùng nuôi có định hướng phát triển lâu dài.  Riêng mô hình máy do ngang cần tiến hành điều tra, thống kê số lượng tàu thuyền khai thác nghề lưới vây xa bờ trên toàn tỉnh để hỗ trợ, khuyến khích ngư dân lắp đặt máy dò ngang và các thiết bị hỗ trợ khai thác. Xây dựng dự án đầu tư ứng dụng máy dò ngang và các trang thiết bị hiện đại trên tàu khai thác hải sản xa bờ.

 
     Như vậy, với những chương trình, mô hình trên, Trung tâm đã tạo điều kiện cho nông, ngư dân tiếp cận kỹ thuật mới áp dụng vào sản xuất đạt hiệu quả, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng cường lợi nhuận cho bà con nông dân để từng bước nâng cao mức sống vươn lên làm giàu, góp phần phát triển kinh tế xã hội tại địa phương./.
Tác giả bài viết: Văn Nhân (Tổng hợp)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết