06:00 Thứ bảy, 16/12/2017

Cần cải tạo, chỉnh trang các vùng nuôi tôm nước lợ

Đăng lúc: Thứ năm - 14/08/2014 03:31 - Người đăng bài viết: lehuuphuc
Phú Yên là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản trên 3 ngàn ha và hàng chục ngàn lồng bè nuôi tôm hùm, cá mú, cá hồng …với giá trị tài sản lên đến hàng ngàn tỷ đồng; Có các vùng nuôi tôm nước lợ (tôm sú và tôm thẻ chân trắng) tập trung, như: Vùng nuôi tôm nước lợ hạ lưu sông Bàn Thạch, huyện Đông Hòa trên 1.000 ha; Vùng nuôi tôm nước lợ ven đầm Ô Loan, huyện Tuy An trên 500 ha; Vùng nuôi tôm nước lợ ven vịnh Xuân Đài, thị xã Sông Cầu trên 250 ha; Vùng nuôi tôm nước lợ ven đầm Cù Mông, thị xã Sông Cầu trên 350 ha.
        Nghề nuôi tôm nước lợ ở Phú Yên hơn hai chục năm qua đã góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế của tỉnh, tạo nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu và tiêu dùng nội địa có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao. Đã tạo việc làm và thu nhập cho hàng chục ngàn hộ ngư dân ven biển. Nhiều người đã trở thành tỷ phú từ nuôi tôm nước lợ, xây cất được nhà to, chăm lo con cái học hành đến nơi đến chốn. Bộ mặt nông thôn ở các làng biển không ngừng đổi mới. Đó là những điều đáng mừng, nhưng bên cạnh đó có nhiều mặt phải lo.
 
     Thực tế cho thấy môi trường các vùng nuôi tôm nước lợ ở Phú Yên đang có chiều hướng ngày càng xấu đi, tình hình dịch bệnh trong nuôi tôm nước lợ diễn biến phức tạp, bệnh hoại tử gan tụy trên tôm thẻ chân trắng vẫn chưa có biện pháp phòng trị hiệu quả. Vấn đề dịch bệnh xảy ra đối với tôm nước lợ liên quan đến nhiều yếu tố như chất lượng giống, sự diễn biến phức tạp của thời tiết khí hậu, tình trạng lạm dụng thuốc thú y, hóa chất, trình độ thâm canh, các chất thải từ sinh họat, từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp làm ảnh hưởng đến nguồn nước ở các vùng hạ lưu sông, các đầm vịnh ven biển. Môi trường xấu là một trong những tác nhân chủ yếu và là điều kiện thuận lợi để bệnh bùng phát và lây lan ra diện rộng. Mặt khác, do nhiều vùng có quá trình phát triển nuôi tôm trải qua một thời gian dài, chất thải hữu cơ tích lũy trong các đầm, vịnh, vùng các cửa sông, ao hồ nuôi và kênh mương nội đồng nhiều năm đã làm cho các yếu tố môi trường liên quan tực tiếp như độ pH của đất và nước, độ trong, độ kiềm, ô xy hòa tan, hàm lượng các khí độc như H2S, NH3…có sự biến đổi liên tục làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các đối tượng thủy sản.

    Tồn tại lớn nhất ở các vùng nuôi tôm nước lợ của Phú Yên là không có kênh cấp, kênh thoát riêng biệt, vì lẽ đó mà từ khi hình thành nghề nuôi tôm nước lợ đến nay hầu hết bà con nuôi tôm lấy nước cấp vào ao tôm và thải nước thải từ ao tôm ra một kênh duy nhất. Hầu hết các hộ nuôi tôm chỉ có ao nuôi, không có ao chứa lắng xử lý nguồn nước trước khi cấp vào ao nuôi. Một số hộ tự khoan giếng lấy nước ngầm cấp thẳng vào ao nuôi. Nguồn nước cấp vào ao nuôi tôm không được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo theo yêu cầu kỹ thuật. Nguồn nước thải từ ao tôm trong quá trình xi phông đáy ao hoặc sau mỗi vụ nuôi kết thúc, kể cả sau khi hồ tôm nuôi bị dịch bệnh cũng tùy tiện xả thải trực tiếp ra kênh mương làm cho nguồn nước ô nhiễm, làm lây lan dịch bệnh.
    Ngoài ra, còn phải kể đến một trong những bất cập trong nuôi tôm nước lợ hiện nay ở Phú Yên đó là việc sử dụng nguồn điện sinh hoạt để chạy máy quạt nước, máy sục khí và thắp sáng ở các hồ nuôi tôm. Người nuôi dùng những cọc tre, gỗ tạm bợ để kéo dây điện đến các hồ tôm. Việc làm này vừa làm phát sinh tăng chi phí sản xuất, vừa mất an toàn sử dụng điện trong quá trình nuôi tôm. Mặt khác, phần lớn các cánh đồng nuôi tôm nước lợ không có đường giao thông nội đồng, việc đi lại, vận chuyển thức ăn, vật tư trong vụ nuôi cũng như việc vận chuyển sản phẩm sau khi thu hoạch đều phải khiêng, vác thủ công, hết sức bất tiện và tốn kém và mất an toàn…
Vấn đề đặt ra, muốn tiếp tục đẩy mạnh phát triển bền vững nghề nuôi tôm nước lợ ở Phú Yên, thì cần thiết phải tiến hành cải tạo, chỉnh trang lại các vùng nuôi tôm nước lợ theo hướng đảm bảo yêu cầu kỹ thuật cơ sở hạ tầng của một vùng nuôi tôm tập trung: Đồng tôm phải có kênh cấp, kênh thoát thải riêng biệt và đạt chuẩn; phải có ao nuôi, ao chứa lắng xử lý nước trước khi cấp vào ao nuôi; phải có hệ thống đường điện phục vụ sản xuất đảm bảo yêu cầu an toàn sử dụng; phải có đường giao thông nội đồng. Đồng thời, phải triển khai, quản lý việc nuôi tôm tuân thủ theo quy hoạch. Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở sản xuất tôm giống chất lượng. Nâng cao năng lực quản lý chất lượng tôm giống. Tăng cường kiểm tra, kiểm soát thuốc, thức ăn, chế phẩm sinh học sử dụng vào nuôi tôm. Nâng cao năng lực, tần suất quan trắc, cảnh báo môi trường, giám sát, xử lý dịch bệnh có hiệu quả đối với các vùng nuôi tôm nước lợ. Phải có kế hoạch phòng chống dịch bệnh ngay từ đầu vụ nuôi. Quản lý chặt chẽ việc thực hiện thời vụ nuôi đối với từng vùng nuôi ở từng địa phương. Tăng cường công tác khuyến ngư và chuyển giao công nghệ sản xuất, nhân rộng các mô hình nuôi tôm hiệu quả. Đẩy nhanh việc xây dựng vùng nuôi, trồng thủy sản an toàn, triển khai thực hiện quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt (GAP). Nâng cao vai trò trách nhiệm cộng đồng của những người nuôi tôm ở các địa phương.
Tác giả bài viết: Nguyễn Khắc Tân (PGĐ Trung tâm KNKN)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết