17:06 Thứ ba, 21/11/2017

Giải pháp nuôi tôm hùm bền vững

Đăng lúc: Thứ sáu - 08/05/2015 09:39
Hiện nay, cả nước trên 43.000 lồng nuôi tôm hùm, tập trung nhiều chủ yếu ở các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, từ Bình Định đến Bình Thuận, nhiều nhất là tỉnh Phú Yên với số lượng lồng nuôi trên 22.591 lồng và tiếp theo là Khánh Hòa với 16.309 lồng.
        Đến nay trong nước cũng như trên thế giới chưa sản xuất được giống tôm hùm, nguồn giống phụ thuộc hoàn toàn vào đánh bắt tự nhiên. Kích cỡ giống thường không đồng đều, con giống được đánh bắt bằng nhiều phương tiện khác nhau (đánh lưới mành, bẫy chà, lặn bắt). Giá tôm hùm giống có sự biến động lớn tùy thuộc vào loài, mùa vụ khai thác và nhu cầu giống hàng năm, tôm hùm bông có giá cao nhất từ 150 - 400 nghìn đồng/con. Sản lượng khai thác tôm hùm giống hàng năm ước tính từ 7,5-9,0 triệu con. Mặc dù mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng nghề khai thác tôm hùm giống tại các địa phương cũng có những tác động tiêu cực đến nguồn lợi tôm hùm và môi trường tự nhiên. Việc khai thác san hô để làm bẫy đã ảnh hưởng đến nguồn lợi san hô, cá rạn và hệ sinh thái ven bờ. Một lượng không nhỏ tôm hùm giống bị chết do sử dụng ánh sáng kết hợp với lưới mành, tận thu tôm hùm có kích thước nhỏ, phương pháp vận chuyển, lưu giữ và ương tôm giống chưa phù hợp. Hậu quả là, tỷ lệ hao hụt trong quá trình ương nuôi thường lớn dao động 20-50%.
 
Diễn đàn Khuyến nông@Nông nghiệp,
chủ đề: Quản lý và phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm tại các tỉnh Duyên hải miền Trung

      Hiện nay, một số tỉnh trong khu vực duyên hải miền Trung chưa có quy hoạch chi tiết vùng nuôi tôm hùm, bên cạnh các khu vực đã có quy hoạch chi tiết thì mật độ lồng nuôi tôm ngày càng gia tăng dẫn tới phá vỡ quy hoạch nuôi, vị trí nuôi tôm hùm nằm chung với vực nuôi cá biển và các loài thủy sản khác; một số điểm hiện đang nuôi tôm nằm trong quy hoạch phát triển du lịch, công nghiệp của địa phương đã gây ảnh hưởng cho sự phát triển. Công nghệ nuôi tôm hùm lồng vẫn áp dụng theo kiểu truyền thống, quy mô nhỏ, năng suất, sản lượng đạt thấp, hiệu quả chưa cao, đã và đang phát sinh nhiều dịch bệnh. Nguồn thức ăn chủ yếu trong nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam là cá tạp, cua sò nhỏ được khai thác từ tự nhiên ... người nuôi không chủ động nguồn thức ăn nhất là mùa mưa bão, việc sử dụng nguồn thức ăn này có những bất lợi như gây ô nhiễm môi trường, làm phát sinh dịch bệnh.

     Tình hình dịch bệnh xảy ra thường xuyên, chưa được kiểm soát tốt ở nhiều nơi đã gây tâm lý lo ngại tiếp tục thả nuôi. Công tác phòng chống dịch bệnh trên tôm có những hạn chế, đó là: công tác kiểm soát chất lượng tôm giống chưa được làm tốt, cơ sở nuôi thả giống giống cỡ nhỏ không đạt tiêu chuẩn, mật độ thả dày, sử dụng thức ăn tươi sống, dẫn tới ô nhiễm môi trường vùng nuôi gây bùng phát dịch bệnh. Công tác kiểm dịch giống nhiều nơi còn mang tính hình thức hoặc chỉ kiểm bằng cảm quan không phát hiện được mầm bệnh trong con giống.
         
      Để phát triển bền vững nghề nuôi tôm hùm bằng lồng ổn định, tương xứng với tiềm năng sẵn có ở các vũng, vịnh, đầm của khu vực miền Trung, một số giải pháp sau:
     
      Thực hiện xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết phát triển nuôi tôm hùm phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020 tầm nhìn 2030 đã được Chính phủ phê duyệt.
      
      Các tỉnh có vùng phân bố giống tự nhiên cần quy hoạch bảo vệ và khai thác hợp lý. Coi nghề khai thác tôm hùm giống là một nghề. Cấp phép khai thác tôm hùm giống cho các hộ dân, nhằm quản lý chặt chẽ nghề khai thác tôm hùm giống về số hộ khai thác, số lượng tàu thuyền, ngư cụ, hình thức và sản phẩm khai thác. Cần xây dựng mô hình đồng quản lý hoặc quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng để đảm bảo việc khai thác tôm hùm giống mang tính bền vững. Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, nhập công nghệ sản xuất giống nhân tạo trong thời gian sớm nhất.

      Các địa phương cần phối hợp với các trường Đại học, Viện Nghiên cứu  tiến hành điều tra nguồn lợi tôm hùm giống tại các vùng đầm, phá, vũng,vịnh để từ đó xây dựng cơ chế giám sát quản lý nhằm khai thác bền vững nguồn giống.
           
      Nghiên cứu nhằm phổ biến kịp thời các biện pháp phòng và trị bệnh cho tôm hùm. Cần chú trọng tăng cường phối hợp công tác quản lý và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản, bảo vệ môi trường giữa các cơ sở nuôi với các viện, trường, trung tâm nghiên cứu trong khu vực.
Tập trung nghiên cứu hoàn thiện những mô hình nuôi an toàn và bền vững trong vùng sinh thái khác nhau cần được đánh giá, xem xét lại để rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm điều chỉnh và hoàn thiện các quy trình công nghệ nuôi tôm hùm bền vững và tạo cơ sở cho việc nhân rộng.

    Tập trung xây dựng để sớm ban hành các tiêu chuẩn và quy chuẩn, định mức về quy trình công nghệ cho các hình thức nuôi, tiêu chuẩn con giống và khu nuôi tập trung
      
      Đẩy mạnh việc quan trắc và cảnh báo môi trường và dịch bệnh thuỷ sản đối với các tỉnh duyên hải miền Trung nhằm giám sát các chỉ tiêu môi trường và dịch bệnh trên diện rộng, đưa ra các dự báo sớm về biến động môi trường và nguy cơ dịch bệnh.

     Tập trung nghiên cứu nhằm ứng dụng công nghệ mới như nuôi tôm hùm trên bờ, trong bể xi măng hiện đang được ứng dụng ở nuôi tại nhiều nước như: Mỹ, Nhật, Singgapho, Úc…trong điều kiện việt nam; Ứng dụng công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ nuôi tôm hùm.
     
    Thực hiện việc giao hoặc cho thuê mặt đất, mặt nước, eo, vịnh, đầm sử dụng vào nuôi tôm hùm đảm bảo ổn định, lâu dài, đặc biệt là cộng đồng dân cư địa phương; sớm hoàn thành việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng mặt nước cho người nuôi.

     Đối với mặt nước biển được quy hoạch cho nuôi tôm hùm, cần thực hiện việc giao, cho thuê mặt nước biển cho người nuôi. Triển khai kịp thời các chính sách hỗ trợ của nhà nhước về phòng ngừa rủi ro cho những vùng nuôi và hộ nuôi gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh.
      Xây dựng chính sách huy động vốn phù hợp, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển nuôi tôm hùm qui mô hàng hoá, tạo nguồn vốn lớn để thực hiện các dự án hạ tầng khu nuôi tôm hùm tập trung. Tăng nguồn vốn vay trung hạn và dài hạn phù hợp với quy trình nuôi tôm hùm, thời gian vay vốn ít nhất là 3 năm, số lượng vốn vay cần phải đủ lớn cho nhu cầu đầu tư của người dân. Thủ tục vay vốn cần được đơn giản hơn, giảm bớt phiền hà cho người vay.
     
     Hệ thống khuyến ngư trong khu vực phải được xây dựng từ tỉnh xuống huyện, xã và các vùng sản xuất tập trung. Truyền đạt các thông tin, kỹ thuật và hướng dẫn thực hành nuôi cho các điểm, vùng quy hoạch (hội thảo, trình diễn...).

    Công tác khuyến ngư là cầu nối giữa các thành tựu nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất, thông qua đó kiểm chứng và khẳng định lại kết quả nghiên cứu khoa học từ đó bổ sung hoàn thiện lý thể để làm tài liệu tuyên truyền. Tạo mạng lưới trao đổi thông tin về kỹ thuật nuôi và bệnh trên tôm hùm giữa người nuôi và các cơ quan chức năng, cơ quan nghiên cứu để nhanh chóng nắm bắt thông tin, phối hợp phòng chống dịch bệnh, giảm thiểu thiệt hại cho người nuôi.
     
     Nhà nước cần hỗ trợ trong công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường mới để tiêu thụ sản phảm thuỷ sản nhằm giúp cho người dân yên tâm phát triển nuôi. Tập trung xây dựng thương hiệu con tôm hùm cho các tỉnh duyên hải miền Trung.
Tác giả bài viết: KS. Nguyễn Khắc Tân, PGĐ Trung tâm KNKN
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết