22:42 Thứ năm, 21/09/2017

Nghề nuôi tôm nước lợ ở Phú Yên- thực trạng và giải pháp khắc phục

Đăng lúc: Thứ hai - 14/09/2015 21:58
Nghề nuôi tôm nước lợ ở Phú Yên bắt đầu hình thành từ năm 1986 ở xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Do thời gian vụ nuôi ngắn (3 – 4 tháng/vụ), lợi nhuận cao (600–700 triệu đồng/ha/vụ) nên nghề nuôi tôm phát triển rất nhanh, nhiều hộ dân đã tạo lập nên cơ nghiệp từ nghề mới này, rất nhiều ngôi nhà cao tầng khang trang, xinh đẹp được xây dựng bên các ao hồ nuôi trồng thủy sản hiện đại, góp phần làm giàu đẹp bộ mặt các vùng nông thôn ven biển.
      Qúa trình phát triển và thực trạng nghề nuôi tôm nước lợ
     Nghề nuôi tôm nước lợ ở Phú Yên bắt đầu hình thành từ năm 1986 ở xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Do thời gian vụ nuôi ngắn (3 – 4 tháng/vụ), lợi nhuận cao (600–700 triệu đồng/ha/vụ) nên nghề nuôi tôm phát triển rất nhanh, nhiều hộ dân đã tạo lập nên cơ nghiệp từ nghề mới này, rất nhiều ngôi nhà cao tầng khang trang, xinh đẹp được xây dựng bên các ao hồ nuôi trồng thủy sản hiện đại, góp phần làm giàu đẹp bộ mặt các vùng nông thôn ven biển.
      Tuy nhiên, trong những năm gần đây dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên khắp các vùng nuôi, vụ nuôi, đối tượng nuôi (tôm Sú, tôm Chân trắng …), người dân gặp rất nhiều khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định nghề nghiệp. Giai đoạn 2001 – 2014 diện tích tôm bệnh ngày càng tăng, diện tích tôm nuôi ngày càng giảm, tổng diện tích giảm: 465,6 ha, tốc độ giảm bình quân 1,34%/năm (diện tích nuôi tôm năm 2001: 2.896,6 ha, năm 2014: 2.431 ha).

           Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng trên
        Theo các tài liệu khoa học, với công nghệ nuôi tôm hiện đang áp dụng, trung bình chỉ khoảng 25% lượng Nitơ (N) trong thức ăn được tích lũy thành sinh khối trong cơ thể tôm, 75% còn lại bị thải vào môi trường theo sản phẩm bài tiết của tôm và từ thức ăn thừa. Trong ao nuôi lượng Nitơ tích lũy trong chất thải ở dạng amonium (NH3 hay NH4+), NH3 là khí độc có thể gây chết tôm (ở môi trường có pH cao), gây nên sự phì dưỡng dẫn đến sự nở hoa của tảo, tảo tàn lụi, lại tái khoáng hóa tạo thành NH3 gây độc cho tôm.
         Để giải quyết lượng Nitơ trong chất thải gây độc cho tôm nuôi, từ trước đến nay các hộ dân chủ yếu thực hiện quy trình nuôi tôm theo công nghệ sử dụng vi tảo.
         Tuy nhiên, nhìn chung với công nghệ này cho dù vi tảo phát triển ổn định cũng không thể xử lý hết lượng Nitơ thải ra trong quá trình nuôi nên môi trường càng ngày càng xuống cấp, việc nuôi tôm càng ngày càng khó khăn, dịch bệnh, thua lỗ.
        Ví dụ: Xét trong một ao nuôi tôm có năng suất 10 tấn/ha, thức ăn sử dụng có hàm lượng protein 30%, khẩu phần 3% khối lượng thân (BW).
            - Lượng Nitơ hằng ngày cung cấp trên 1m2 ao nuôi (thời điểm cuối vụ):
            1.000 g/m2 x 3%/ngày x 30% x 16% = 1,44 g N/m2/ngày
            (16% là tỷ lệ Nitơ có trong protein )
            25% lượng Nitơ tích lũy thành sinh khối trong cơ thể tôm;
            75% thải ra môi trường: 75% x 1,44 = 1,08 g N/m2/ngày
            - Lượng Carbon (C) trên 1 m2 ao nuôi được tảo hấp thụ hằng ngày: 4g.
            - Lượng Nitơ (N) trên 1m2 ao nuôi được tảo hấp thụ hằng ngày: 1/6 x 4 = 0,66 g N/m2/ngày.     (1/6: Tỷ lệ Nitơ trên Carbon trong tảo).
            Như vậy, lượng Nitơ thải ra môi trường hằng ngày rất lớn (1,08 g/m2)  so với khả năng hấp thụ rất nhỏ của tảo (0,66 g/m2). Do đó; có thể thấy: Ngay khi tảo phát triển ổn định cũng không thể hấp thụ hết lượng Nitơ thải ra môi trường, môi trường ngày càng xuống cấp, việc nuôi tôm ngày càng khó khăn. Có thể nói nghề nuôi tôm phát triển thiếu kế hoạch đã gây tác hại lên chính nó.
            Để phát triển ổn định nghề nuôi tôm, vấn đề đặt ra hiện nay là phải làm môi trường nuôi trong sạch. Khi môi trường trong sạch con tôm rất khó bị nhiễm bệnh, khó bộc phát bệnh ngay cả trường hợp có mầm bệnh trong mô cơ của tôm nuôi.
          Làm sạch môi trường bằng công nghệ Semi Biofloc (làm sạch bằng vi tảo và hệ thống Biofloc)
            Trong các năm gần đây, tuy rất nhiều hộ dân điêu đứng vì dịch bệnh nhưng cũng có rất nhiều hộ mạnh dạn thực hiện quy trình nuôi tôm theo công nghệ Semi Biofloc đạt hiệu quả cao, ổn định (hộ bà Huệ - thị xã Sông Cầu, hộ ông Tâm, ông Sỹ – huyện Tuy An, hộ ông Sinh – TP Tuy Hòa, hộ ông Hải, ông Xứ  – huyện Đông Hòa ...).
            Vấn đề chính của công nghệ này là tạo điều kiện tối ưu để vi sinh vật dị dưỡng phát triển, các vi sinh vật này kết dính lại với nhau tạo thành các cụm Biofloc trôi nổi trong nước vừa hấp thụ khí độc amonium làm sạch môi trường vừa làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho tôm nuôi.
            Theo các tài liệu khoa học, tỷ lệ C:N tối ưu để hình thành Biofloc là C:N ≥ 12,5:1. Carbon hữu cơ được bổ sung thường thông qua các Carbohydrate như: Cám gạo, mật rỉ đường, tinh bột, E.M Trùn ... hoặc thay đổi thành phần thức ăn: Tăng hàm lượng Carbohydrate, giảm hàm lượng protein (tỷ lệ Carbon trong Carbohydrate thường là 50%). Carbohydrate thường được bổ sung định kỳ để tạo ra sự luân phiên giữa điều kiện phú dưỡng và cạn kiệt tạm thời.          
          Để vi khuẩn chuyển hóa được 1g amonium/m3 nước thành sinh khối vi sinh vật cần cung cấp 20g Carbohydrate/m3 nước. Theo đó:
        - Nuôi tôm ứng dụng công nghệ Biofloc (hoàn toàn không có vi tảo): Lượng Carbohydrate bổ sung bằng khoảng 50% lượng thức ăn sử dụng.
          - Nuôi tôm với công nghệ Semi biofloc (có kèm theo vi tảo): Lượng Carbohydrate bổ sung bằng khoảng 20% lượng thức ăn sử dụng.

            Semi Biofloc – Giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi tôm
         Đánh giá về hiệu quả của quy trình nuôi tôm theo công nghệ Semi Biofloc, ông Nguyễn Đình Nhơn, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Phú Yên cho biết: Có thể thấy so với công nghệ sử dụng vi tảo, công nghệ Semi Biofloc có nhiều tác dụng ưu việt hơn, vừa xử lý chất thải làm sạch môi trường vừa tạo nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho tôm, vừa hỗ trợ công tác phòng bệnh.
         Vì vậy, nếu 100% bà con nuôi tôm trong vùng đều thực hiện công nghệ này, thực hiện tốt quy chế quản lý cộng đồng vùng nuôi tập trung, chắc chắn sẽ làm môi trường toàn vùng nuôi trong sạch, ngăn chặn dịch bệnh, phát triển nghề nuôi tôm hiệu quả, bền vững./.
Tác giả bài viết: KS. Huỳnh Văn Vũ, Trạm KNKN TP Tuy Hòa
Từ khóa:

Qúa trình phát triển và thực trạng nghề nuôi tôm nước lợ Nghề nuôi tôm nước lợ ở Phú Yên bắt đầu hình thành từ năm 1986 ở xã Hòa Hiệp Nam, huyện Đông Hòa. Do thời gian vụ nuôi ngắn (3 – 4 tháng/vụ), lợi nhuận cao (600–700 triệu đồng/ha/vụ) nên nghề nuôi tôm phát triển rất nhanh, nhiều hộ dân đã tạo lập nên cơ nghiệp từ nghề mới này, rất nhiều ngôi nhà cao tầng khang trang, xinh đẹp được xây dựng bên các ao hồ nuôi trồng thủy sản hiện đại, góp phần làm giàu đẹp bộ mặt các vùng nông thôn ven biển. Tuy nhiên, trong những năm gần đây dịch bệnh xảy ra liên tiếp trên khắp các vùng nuôi, vụ nuôi, đối tượng nuôi (tôm Sú, tôm Chân trắng …), người dân gặp rất nhiều khó khăn để phát triển sản xuất, ổn định nghề nghiệp. Giai đoạn 2001 – 2014 diện tích tôm bệnh ngày càng tăng, diện tích tôm nuôi ngày càng giảm, tổng diện tích giảm: 465, 6 ha, tốc độ giảm bình quân 1, 34%/năm (diện tích nuôi tôm năm 2001: 2.896, 6 ha, năm 2014: 2.431 ha). Nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng trên Theo các tài liệu khoa học, với công nghệ nuôi tôm hiện đang áp dụng, trung bình chỉ khoảng 25% lượng Nitơ (N) trong thức ăn được tích lũy thành sinh khối trong cơ thể tôm, 75% còn lại bị thải vào môi trường theo sản phẩm bài tiết của tôm và từ thức ăn thừa. Trong ao nuôi lượng Nitơ tích lũy trong chất thải ở dạng amonium (NH3 hay NH4+), NH3 là khí độc có thể gây chết tôm (ở môi trường có pH cao), gây nên sự phì dưỡng dẫn đến sự nở hoa của tảo, tảo tàn lụi, lại tái khoáng hóa tạo thành NH3 gây độc cho tôm. Để giải quyết lượng Nitơ trong chất thải gây độc cho tôm nuôi, từ trước đến nay các hộ dân chủ yếu thực hiện quy trình nuôi tôm theo công nghệ sử dụng vi tảo. Tuy nhiên, nhìn chung với công nghệ này cho dù vi tảo phát triển ổn định cũng không thể xử lý hết lượng Nitơ thải ra trong quá trình nuôi nên môi trường càng ngày càng xuống cấp, việc nuôi tôm càng ngày càng khó khăn, dịch bệnh, thua lỗ. Ví dụ: Xét trong một ao nuôi tôm có năng suất 10 tấn/ha, thức ăn sử dụng có hàm lượng protein 30%, khẩu phần 3% khối lượng thân (BW). - Lượng Nitơ hằng ngày cung cấp trên 1m2 ao nuôi (thời điểm cuối vụ): 1.000 g/m2 x 3%/ngày x 30% x 16% = 1, 44 g N/m2/ngày (16% là tỷ lệ Nitơ có trong protein ) 25% lượng Nitơ tích lũy thành sinh khối trong cơ thể tôm; 75% thải ra môi trường: 75% x 1, 44 = 1, 08 g N/m2/ngày - Lượng Carbon (C) trên 1 m2 ao nuôi được tảo hấp thụ hằng ngày: 4g. - Lượng Nitơ (N) trên 1m2 ao nuôi được tảo hấp thụ hằng ngày: 1/6 x 4 = 0, 66 g N/m2/ngày. (1/6: Tỷ lệ Nitơ trên Carbon trong tảo). Như vậy, lượng Nitơ thải ra môi trường hằng ngày rất lớn (1, 08 g/m2) so với khả năng hấp thụ rất nhỏ của tảo (0, 66 g/m2). Do đó; có thể thấy: Ngay khi tảo phát triển ổn định cũng không thể hấp thụ hết lượng Nitơ thải ra môi trường, môi trường ngày càng xuống cấp, việc nuôi tôm ngày càng khó khăn. Có thể nói nghề nuôi tôm phát triển thiếu kế hoạch đã gây tác hại lên chính nó. Để phát triển ổn định nghề nuôi tôm, vấn đề đặt ra hiện nay là phải làm môi trường nuôi trong sạch. Khi môi trường trong sạch con tôm rất khó bị nhiễm bệnh, khó bộc phát bệnh ngay cả trường hợp có mầm bệnh trong mô cơ của tôm nuôi. Làm sạch môi trường bằng công nghệ Semi Biofloc (làm sạch bằng vi tảo và hệ thống Biofloc) Trong các năm gần đây, tuy rất nhiều hộ dân điêu đứng vì dịch bệnh nhưng cũng có rất nhiều hộ mạnh dạn thực hiện quy trình nuôi tôm theo công nghệ Semi Biofloc đạt hiệu quả cao, ổn định (hộ bà Huệ - thị xã Sông Cầu, hộ ông Tâm, ông Sỹ – huyện Tuy An, hộ ông Sinh – TP Tuy Hòa, hộ ông Hải, ông Xứ – huyện Đông Hòa ...). Vấn đề chính của công nghệ này là tạo điều kiện tối ưu để vi sinh vật dị dưỡng phát triển, các vi sinh vật này kết dính lại với nhau tạo thành các cụm Biofloc trôi nổi trong nước vừa hấp thụ khí độc amonium làm sạch môi trường vừa làm thức ăn giàu dinh dưỡng cho tôm nuôi. Theo các tài liệu khoa học, tỷ lệ C:N tối ưu để hình thành Biofloc là C:N ≥ 12, 5:1. Carbon hữu cơ được bổ sung thường thông qua các Carbohydrate như: Cám gạo, mật rỉ đường, tinh bột, E.M Trùn ... hoặc thay đổi thành phần thức ăn: Tăng hàm lượng Carbohydrate, giảm hàm lượng protein (tỷ lệ Carbon trong Carbohydrate thường là 50%). Carbohydrate thường được bổ sung định kỳ để tạo ra sự luân phiên giữa điều kiện phú dưỡng và cạn kiệt tạm thời. Để vi khuẩn chuyển hóa được 1g amonium/m3 nước thành sinh khối vi sinh vật cần cung cấp 20g Carbohydrate/m3 nước. Theo đó: - Nuôi tôm ứng dụng công nghệ Biofloc (hoàn toàn không có vi tảo): Lượng Carbohydrate bổ sung bằng khoảng 50% lượng thức ăn sử dụng. - Nuôi tôm với công nghệ Semi biofloc (có kèm theo vi tảo): Lượng Carbohydrate bổ sung bằng khoảng 20% lượng thức ăn sử dụng. Semi Biofloc – Giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi tôm Đánh giá về hiệu quả của quy trình nuôi tôm theo công nghệ Semi Biofloc, ông Nguyễn Đình Nhơn, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Phú Yên cho biết: Có thể thấy so với công nghệ sử dụng vi tảo, công nghệ Semi Biofloc có nhiều tác dụng ưu việt hơn, vừa xử lý chất thải làm sạch môi trường vừa tạo nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho tôm, vừa hỗ trợ công tác phòng bệnh. Vì vậy, nếu 100% bà con nuôi tôm trong vùng đều thực hiện công nghệ này, thực hiện tốt quy chế quản lý cộng đồng vùng nuôi tập trung, chắc chắn sẽ làm môi trường toàn vùng nuôi trong sạch, ngăn chặn dịch bệnh, phát triển nghề nuôi tôm hiệu quả, bền vững./.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết