15:15 Thứ tư, 22/11/2017

Phú Yên phát triển nghề nuôi tôm Hùm xuất khẩu

Đăng lúc: Thứ tư - 02/04/2014 04:51 - Người đăng bài viết: minhnhat
Phú Yên là một tỉnh ven biển Nam Trung bộ, có chiều dài bờ biển trên 189 km với địa hình khúc khuỷu có các eo, đầm, vịnh lớn như đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài thuộc thị xã Sông Cầu, đầm Ô Loan thuộc huyện Tuy An, vịnh Vũng Rô thuộc huyện Đông Hòa… rất thích hợp và thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là phát triển nuôi tôm hùm xuất khẩu. Những năm gần đây, sản lượng tôm hùm thương phẩm thu hoạch lên đến 600 - 700 tấn/năm, cao nhất cả nước, tương đương giá trị thực tế từ 800 đến gần 1.000 tỷ đồng.
   Sơ khai hình thành nghề nuôi tôm hùm bằng đăng đáy
   Những năm trước 1990, hầu hết các đầm, vịnh ở Phú Yên còn hoang sơ, người dân sống ven đầm, vịnh chủ yếu dựa vào khai thác thủy sản tự nhiên, cuộc sống còn nhiều khó khăn, vất vả.

    Năm 1990, một số bà con ngư dân sống bằng nghề khai thác thủy sản ven đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài bắt được những con tôm hùm con đem nhốt vào đăng nhỏ, một thời gian sau thấy tôm hùm lớn dần, đăng nhỏ được thay thế bằng đăng lớn hơn. Từ đó phương thức nuôi tôm hùm bằng đăng đáy được hình thành. Ngườì dân dùng cọc gỗ có đường kính 8-10 cm, chọn loại gỗ chắc, chụi được sóng gió và nước biển, vát nhọn một đầu đóng sâu xuống nền đáy đầm, vịnh từ 0,5 –1,2 m để làm khung đăng, dùng các cây gỗ nhỏ hơn làm sườn, sao cho khung đăng vững vàng chắc chắn là được. Sau khi đóng cọc xong, đăng lưới mặt đáy và bốn mặt xung quanh rồi thả giống cở từ 30g –50g/con với mật độ 5 –7 con/m2 vào đăng để nuôi. Nguồn tôm hùm giống chủ yếu được bắt từ môi trường tự nhiên, cho nên trong một đăng nuôi có nhiều loại tôm hùm khác nhau, như: tôm hùm bông, tôm hùm đá, tôm hùm sỏi ... Khi thu hoạch tôm hùm thương phẩm thường có trọng lượng nhỏ dưới 0,5kg/con chiếm tỷ lệ cao, do có nhiều tôm hùm đá và tôm hùm sỏi. Chỉ có tôm hùm bông là có kích cở thương phẩm lớn trên dưới 1 kg, nhưng chiếm tỷ lệ thấp. Nhưng dù sao chăng nữa cách làm này đã cho bà con ngư dân một nguồn thu nhập đáng kể để cải thiện cuộc sống. Đến năm 1994, nghề nuôi tôm hùm bằng đăng đáy ở đầm Cù Mông và vịnh Xuân Đài bắt đầu phát triển thành diện rộng, đã có hàng trăm hộ dân đầu tư làm đăng để nuôi tôm hùm, nhu cầu về tôm hùm giống cũng bắt đầu tăng lên, hoạt động khai thác và dịch vụ mua bán  tôm hùm giống tự nhiên cũng nhanh chóng được đẩy mạnh.

      Bước chuyển sang nghề nuôi tôm hùm bằng lồng chìm
     Phương thức nuôi tôm hùm bằng đăng đáy, sau ít năm đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế và nhược điểm. Việc cho tôm ăn cũng như chăm sóc, quản lý chưa được chú trọng và chưa theo tiêu chuẩn kỹ thuật nào, việc làm vệ sinh đáy đăng khó khăn. Phương thức nuôi này cũng chỉ nuôi được ở những nơi nền đáy mềm, khi có sự thay đổi khác thường về thời tiết, khí hậu và sự biến đổi xấu của môi trường thì không thể di chuyển đăng đi nơi khác được, làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả vụ nuôi, có trường hợp do ô nhiễm cục bộ tại từng đăng nuôi làm cho tôm bị bệnh và chết gây thiệt hại lớn. 

     Trước thực trạng đó, các nhà khoa học và cán bộ chuyên môn kỹ thuật đã nhanh chóng vào cuộc cùng tham gia tháo gỡ. Nhiều đề tài nghiên cứu, dự án khoa học về tôm hùm cấp cơ sở và cấp nhà nước do Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III Nha Trang hoặc do các cơ quan chuyên môn ở địa phương chủ trì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép triển khai thực hiện tại vịnh Xuân Đài và đầm Cù Mông. Sau những thành công của các đề tài, dự án khoa học, quy trình kỹ thuật nuôi tôm hùm được xây dựng và hoàn thiện dần, phương thức nuôi được nâng lên một bước. Các nhà khoa học và cán bộ chuyên môn kỹ thuật ngành Thủy sản, đặc biệt là cán bộ khuyến ngư Phú Yên đã nhanh chóng, tích cực phổ biến, chuyển giao khoa học công nghệ cho các hộ nuôi tôm hùm ở Phú Yên. Nhờ đó mà bà con ngày càng nắm vững kỹ thuật và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Năm 1996, hầu hết các hộ ương, nuôi tôm hùm bằng đăng đáy đã chuyển sang nuôi tôm hùm bằng lồng chìm. Lồng được đăng lưới 6 mặt, mặt trên của lồng có nắp đậy để thuận tiện cho việc kiểm tra, vệ sinh lồng và có ống nhựa đường kính 100mm có chiều dài nhô lên khỏi mặt nước lúc triều cường trên 0,5m để cho tôm ăn. Lồng nuôi thường có kích cở: (3x3x1,5)m, (3x3,5x1,5)m hoặc (2x3x1,2)m, (3x2,5x1,2)m. Năm 1996, toàn tỉnh có hơn 1.000 lồng nuôi tôm hùm thương phẩm, tôm hùm giống cũng được tuyển chọn kỹ lưỡng, chủ yếu là nuôi tôm hùm bông (Panulirus ornatus), mật độ từ 5 –7con/m3 lồng (cở giống từ 30g –50g/con), sản lượng tôm thương phẩm thu hoạch đạt 16 tấn/năm, cở tôm thương phẩm bình quân 1kg/con. Từ sự thành công của phương thức nuôi này, số lượng lồng nuôi tôm hùm đã liên tục tăng. Năm 2001, toàn tỉnh Phú Yên có khoảng 15.000 lồng ương và nuôi tôm hùm. Trong đó, có 11.500 lồng nuôi tôm hùm thương phẩm tập trung chủ yếu ở đầm Cù Mông và vịnh Xuân Đài là 11.000 lồng, Vũng Rô gần 500 lồng. Sản lượng tôm hùm thương phẩm thu hoạch được khoảng 155 tấn/năm. Năm 2002 sản lượng tôm hùm thương phẩm thu hoạch được 180 tấn, tôm hùm thương phẩm được giá, nhiều hộ nuôi tôm hùm đã thu lãi lớn. Năm 2004, toàn tỉnh Phú yên có số lồng ương, nuôi tôm hùm lên đến 19.010 lồng, trong đó có 15.360 lồng nuôi tôm hùm thương phẩm tập trung ở đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài 14.500 lồng, ở vịnh Vũng Rô 860 lồng. Sản lượng tôm hùm thương phẩm thu hoạch được 634 tấn.
      Phát triển nuôi tôm hùm bằng lồng bè
     So với phương phức nuôi đăng đáy, thì phương thức nuôi bằng lồng chìm đã có bước tiến bộ hơn nhiều, nhưng chưa thật sự hoàn hảo mà còn bộc lộ một số nhược điểm. Nhất là khi di chuyển lồng tránh bão lụt hoặc mỗi lần cảo lồng (làm vệ sinh) phải nâng lồng lên gần mặt nước rất nặng nhọc và khó khăn, tốn nhiều công sức và chi phí. Để khắc phục tình trạng đó, với sự tham gia tích cực của các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật và kết hợp sự sáng tạo của bà con ngư dân, một phương thức nuôi mới lại được hình thành với nhiều ưu điểm vượt trội, đó là phương thức nuôi tôm hùm bằng lồng bè. Với phương thức này, khung bè được làm bằng những cây tre già hoặc bằng cây gỗ có đường kính từ 10 – 15 cm, chắc chắn, chịu được sóng gió và nước biển, chiều dài cây gỗ khoảng 4-6m, được liên kết lại với nhau bằng đinh vít và dây thép có đường kính từ 3-5mm tạo thành những ô lồng 3 x 5 m, thường thì mỗi bè có 6 – 10 ô lồng, tùy theo khả năng đầu tư của từng người nuôi. Bè nuôi được giữ nổi bởi các phao làm bằng thùng phi hoặc can nhựa. Bốn góc bè có 4 neo để giữ cho bè luôn ở thế ổn định. Với phương thức nuôi này, tạo cho người nuôi rất dễ dàng trong chăm sóc, quản lý, vệ sinh lồng bè nuôi, thu hoạch sản phẩm hay di chuyển bè nuôi khi có những biến đổi bất ổn về môi trường và thời tiết. Từ năm 2005 đến nay ở vịnh Xuân Đài, đầm Cù Mông và vịnh Vũng Rô phần lớn số hộ nuôi tôm hùm thương phẩm bằng phương thức lồng chìm đã chuyển sang nuôi tôm hùm bằng bè. Thu được hiệu quả cao hơn phương thức nuôi bằng lồng chìm từ 20 – 30%.

       Hình thức nuôi tôm hùm bằng bè mở ra triển vọng đầu tư phát triển nuôi thủy sản bằng bè trên biển. Với phương thức nuôi ngày càng tiến bộ, nghề nuôi tôm hùm xuất khẩu ở Phú Yên tiếp tục phát triển với hiệu quả ngày càng cao và bền vững hơn. Ngành thủy sản và chính quyền các địa phương tăng cường công tác quản lý và thực hiện quy hoạch một cách chặt chẽ và thường xuyên. Đẩy mạnh các giải pháp phát triển hợp lý, nhằm hạn chế tình trạng gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh bùng phát. Những gương điển hình tiên tiến và cách làm hay được quan tâm nhân rộng. Đẩy mạnh phổ biến, nhân rộng mô hình nuôi tôm hùm kết hợp với một số đối tượng như vẹm xanh, rong sụn, Tu hài nhằm vừa nâng cao hiệu quả kinh tế, vừa góp phần cải tạo môi trường sinh thái thông qua cơ chế lọc sinh học của các đối tượng nuôi kết hợp này ngay tại từng bè và từng khu vực nuôi, tránh ô nhiễm cục bộ, gây dịch bệnh đối với tôm hùm. Nâng cao trách nhiệm cộng đồng của bà con nuôi tôm hùm ở các đầm, vịnh. Năm 2011 số lượng lồng nuôi 29.102 lồng, sản lượng thu hoạch đạt 510 tấn, giá trị đạt 510 tỷ đồng (giá tôm hùm bình quân 1 triệu đồng/kg); Năm 2012 số lượng lồng nuôi 24.374 lồng, sản lượng thu hoạch đạt 660 tấn, giá trị đạt 660 tỷ đồng (giá tôm hùm bình quân 1 triệu đồng/kg); Năm 2013 số lượng lồng nuôi 22.591 lồng, sản lượng thu hoạch đạt 622 tấn, giá trị đạt 995,2 tỷ đồng (giá tôm hùm bình quân 1,6 triệu đồng/kg).

     Tập trung sức tháo gỡ khó khăn để tạo sự phát triển bền vững 
     Do lợi nhuận cao nên nhiều người dân đầu tư thêm lồng bè nuôi, thả nuôi với mật độ lồng cao 75 lồng/ha (theo qui định là 30-60 lồng/ha), mật độ thả nuôi tăng (80- 100 con/ lồng) tăng gấp 2 lần so với quy định (50 con/lồng), lượng thức ăn tươi sống dư thừa thải ra môi trường; dẫn đến vùng nuôi bị quá tải, ngày càng ô nhiễm, hậu quả dịch bệnh trên tôm nuôi ngày càng trầm trọng. Năm 2011, có 4.947 lồng tôm nuôi bị bệnh, chiếm 17% số lồng thả nuôi; năm 2012 có 7.947 lồng tôm nuôi bị bệnh, chiếm 33% số lồng thả nuôi; năm 2013 có 3.388 lồng tôm nuôi bị bệnh, chiếm 15% số lồng thả nuôi. Bệnh tôm hùm xảy ra chủ yếu là bệnh đen mang, đỏ thân, bệnh sữa; trong đó bệnh sữa là nguy hiểm nhất, đã xảy ra bệnh, dịch trên diện rộng trong năm 2007 và đã có phác đồ điều trị bệnh sữa hiệu quả trong những năm tiếp theo, nhưng hiện nay bệnh lại có dấu hiệu trở lại nghiêm trọng.

     Để hạn chế dịch bệnh, các cơ quan chức năng vận động người nuôi kiểm tra, vệ sinh lồng bè, đốt xác tôm chết và di chuyển lồng đến vùng thông thoáng, nước sâu, dòng chảy mạnh; treo túi vôi ở 4 gốc lồng, làm lắng đọng các chất hữu cơ lơ lửng; hướng dẫn người nuôi tăng cường vitamin C trong khẩu phần ăn của tôm, cho ăn thức ăn đảm bảo chất lượng, vừa đủ, tránh dư thừa gây ô nhiễm; sang lồng, giảm mật độ tôm trong mỗi lồng nuôi. Tập huấn hướng dẫn biện pháp phòng bệnh và phác đồ chữa bệnh phù hợp để giảm thiệt hại cho người nuôi. Tổ chức hội nghị tổng kết; Ban hành các văn bản chỉ đạo các biện pháp phòng, trị bệnh tôm hùm, hướng dẫn khắc phục bệnh trên tôm hùm nuôi; triển khai đề tài “Đánh giá thực trạng sử dụng kháng sinh, khả năng kháng thuốc của vi khuẩn và đề xuất giải pháp phòng trị bệnh tôm hùm nuôi lồng ”. Vận động tuyên truyền để người nuôi chấp hành tốt Quyết định số 2383/QĐ-BNN-NTTS ngày 06/8/2008 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành quy định tạm thời về nuôi tôm hùm.


     Ngoài các khó khăn trên, đến nay nghề nuôi tôm hùm vẫn chưa có con giống nhân tạo và thức ăn công nghiệp tạo sự chủ động cho nghề này. Thiết nghĩ, các cơ quan nghên cứu, nghiên cứu chế biến thức ăn công nghiệp cho tôm hùm để thay thế thức ăn tự nhiên như lâu nay và nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống tôm hùm để tạo sự chủ động về nguồn giống, hạn chế sự phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên khan hiếm, tạo điều kiện để nghề nuôi tôm hùm phát triển bền vững.

     Nghề nuôi tôm hùm ở Phú yên phát triển vào bậc nhất của cả nước, đã góp phần khai thác sử dụng có hiệu quả tiềm năng lợi thế về tự nhiên, gải quyết việc làm và nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho hàng ngàn lao động tại địa phương. Đặc biệt, có nhiều hộ ngư dân nhờ nuôi tôm hùm xuất khẩu đạt kết quả cao trong nhiều năm đã trở thành tỷ phú, được cả nước biết đến./. 
Tác giả bài viết: KS. Nguyễn Khắc Tân - PGĐ Trung tâm KN-KN Phú Yên
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết