04:15 Thứ hai, 23/10/2017

Dự báo Sâu bệnh hại cây trồng vụ Đông Xuân 2015 - 2016

Đăng lúc: Thứ tư - 25/11/2015 22:37
Chi cục Bảo vệ thực vật dự báo những đối tượng dịch hại chính có khả năng gây hại nặng trong vụ Đông Xuân 2015 – 2016.

I. Cây lúa

Theo kế hoạch, toàn tỉnh có tổng diện tích gieo sạ khoảng 26.000 ha; dự kiến lịch thời vụ chính từ 20/12/2015 - 10/01/2016, trà sớm có thể được gieo sạ từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 12/2015 và trà muộn có thể kéo dài đến hết tháng 01/2016; với bộ giống chủ lực là ML 202, ML 4-2, ML48, ML 49, ML 216; các giống bổ sung: Hoa Ưu 109, AS 996, OM 4900, ML 68, ML 4, ĐV 108, PY 1, PY 2, OM 6976, ĐT 34, PC 6, TBR 36, TBR 45, AN 26, AN 14.
 Với điều kiện như vậy, Chi cục Bảo vệ thực vật dự báo một số đối tượng dịch hại chính có khả năng phát sinh gây hại trong vụ Đông Xuân 15-16 như sau:
1. Chuột 
   - Giai đoạn trước khi gieo sạ: Cần ra quân diệt chuột tập trung, đồng loạt từ 2- 3 lần. Giai đoạn này diệt chuột có hiệu quả, huy động được lực lượng lớn và áp dụng được nhiều biện pháp. Coi trọng biện pháp thủ công đào bắt chuột ở hang, kết hợp sử dụng chà di, đổ nước, xông hơi hang, chó săn bắt chuột…
- Giai đoạn làm đất lần cuối trước khi gieo sạ: Đây là thời điểm diệt chuột có kết quả cao vì ruộng chưa có lúa, chuột thiếu thức ăn. Nên sử dụng biện pháp đánh bã thuốc sinh học (Biorat, bã diệt chuột sinh học), hoá học (Rat K 2%D, Klerat 0,05%, Racumin 0,0375 paste) đồng loạt và làm ruộng Bẫy cây trồng.
- Giai đoạn lúa đẻ nhánh đến trỗ: Lúa còn nhỏ diệt chuột có hiệu quả hơn lúa lớn.  Sử dụng nhiều biện pháp diệt chuột như bẫy hàng rào, bẫy bán nguyệt, dùng đèn soi đuổi bắt, nôm chụp kết hợp với đánh bả bằng thuốc sinh học và hóa học.
2. Ốc bươu vàng
Trong năm 2015, ốc bươu vàng (OBV) gây hại nhẹ ở những chân ruộng trũng, với diện tích 21ha, TLH 5-10% dảnh, chủ yếu tại các huyện Phú Hòa và Đồng Xuân. Tuy nhiên theo dự báo chuyên ngành BVTV thì trong thời gian đầu của vụ Đông Xuân, OBV cũng sẽ tiếp tục gây hại lúa mới gieo sạ. Do đó, Chi cục BVTV đề nghị các địa phương cần tập trung theo dõi diễn biến OBV và hướng dẫn ND phòng trừ đúng biện pháp kỹ thuật. Với OBV, biện pháp thu gom trứng và ốc non vẫn là hiệu quả nhất. Nghiêm cấm việc nhân nuôi OBV.(Có hướng dẫn phòng trừ chuột và OBV riêng)
   3. Sâu năn
   Là đối tượng thường gây hại nặng cho lúa Đông Xuân. Sự phát sinh, phát triển của sâu năn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Nhiệt độ, ẩm độ, thời vụ gieo sạ, giai đoạn sinh trưởng cây lúa…. Giai đoạn lúa đẻ nhánh (10-35 ngày tuổi), nếu gặp lứa muỗi năn ra rộ kết hợp với trời âm u lạnh kéo dài, có sương buổi sáng… sâu năn dễ phát sinh, xâm nhiễm và gây hại cho cây lúa. Các đợt muỗi năn ra rộ trong vụ Đông Xuân bao gồm:
- Đợt 1: Từ khoảng 15 đến 20/11, gây hại trên lúa vụ Mùa.
- Đợt 2: Từ giữa tháng 12 đến đầu tháng 1, gây hại trên lúa đẻ nhánh trà đầu.
- Đợt 3: Từ 20/01 đến đầu tháng 02, gây hại trên lúa giai đoạn đẻ nhánh trà chính và trà cuối, là nguy hiểm nhất. Thông thường, những diện tích sạ muộn sau 15/01 thường bị sâu năn của đợt muỗi này gây hại.
- Đợt 4: Từ 20/02 đến đầu tháng 3, gây hại chủ yếu trên lúa trà muộn và những diện tích sạ lại. 
   - Đợt 5: Từ 15/3 đến 5/4, gây hại trên dảnh phụ.
Xác định thời vụ gieo sạ thích hợp và sạ tập trung là biện pháp tốt nhất để quản lý sâu năn. Các địa phương và Trạm BVTV cần theo dõi chặt chẽ thời gian muỗi năn ra rộ qua hệ thống bẫy đèn để chủ động tổ chức phòng trừ khi cần thiết. Khi lúa ở giai đoạn sau 35 - 40 ngày tuổi, cây lúa chuẩn bị chuyển sang thời kỳ tượng khối sơ khởi nên sâu năn không thể gây hại dảnh chính mà chỉ tập trung gây hại các dảnh phụ.
Do đó, cần tập trung theo dõi chặt sâu năn ở những vùng lúa trước 35-40 ngày tuổi, chỉ tiến hành phun xử lý theo sự hướng dẫn của Trạm BVTV, tránh phun tràn lan để bảo vệ thiên địch. IPM là biện pháp tốt nhất để quản lý sâu năn hại lúa.   
4. Rầy nâu, rầy lưng trắng
Trong vụ ĐX 15-16, do nông dân vẫn tiếp tục gieo sạ nhiều giống lúa được ghi nhận nhiễm rầy nâu như: TBR 1, D98-17, KD 18, OM2695-2, ĐV 108, PY1, PY 2…. Do đó, nguy cơ rầy nâu và rầy lưng trắng phát sinh gây hại cho lúa ĐX là rất cao. Theo quy luật, rầy nâu sẽ phát sinh khoảng từ giữa tháng 2, tiếp theo sau các lứa rầy lưng trắng và mật độ của chúng phụ thuộc nhiều vào các biện pháp canh tác như: Giống, mật độ sạ, bón phân đạm và quần thể thiên địch. Việc phun thuốc trừ sâu ăn lá sớm và không cần thiết sẽ làm giảm đáng kể mật số thiên địch, làm bùng phát dịch rầy nâu vào giai đoạn cuối vụ.
 Để hạn chế tác hại của rầy nâu và rầy lưng trắng, các địa phương cần tích cực ngăn ngừa sự phát sinh của rầy bằng các biện pháp sau: Vệ sinh đồng ruộng, làm đất kỹ; gieo sạ đúng thời vụ và tập trung; khuyến khích ND sạ giống xác nhận, sạ hàng, sạ thưa  (100 – 120 kg/ha); không sử dụng các giống đã ghi nhận nhiễm rầy nêu trên; bón phân NPK cân đối hợp lý, nên bón lót phân chuồng; hạn chế dùng thuốc BVTV, không phun thuốc trừ sâu ăn lá giai đoạn đẻ nhánh vì dễ gây hiện tượng bộc phát rầy nâu. Khi cần thiết phun, nên tuân thủ nguyên tắc 4 đúng; cần thực hiện quản lý rầy nâu theo phương pháp IPM; thường xuyên theo dõi rầy nâu và rầy lưng trắng vào đèn, hướng di chuyển của chúng để làm cơ sở cho việc dự báo và tổ chức phòng trừ rầy nâu trên địa bàn.
   5. Bệnh đạo ôn
   Trong thời gian trước và sau tết Nguyên đán, thời tiết vụ Đông Xuân thường âm u, có mưa phùn, đêm và sáng sớm có sương. Thời điểm này lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh - ôm đòng, phát triển nhanh thân lá, là điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát sinh, phát triển. Bệnh thường gây hại nặng trên những ruộng sạ dày, bón thừa đạm và sạ các giống nhiễm như  ML202, PY1, PY2, ML68, ML48, VNĐ95-20, IR17494, ML213, OM 3536, OM 1490, MTL 250,...  Các đợt gây hại chính của bệnh đạo ôn trong vụ Đông Xuân là:
- Đợt 1: Cuối tháng 1 đến đầu tháng 2, gây hại nhẹ trên lá lúa trà sớm giai đoạn đẻ nhánh và đứng cái.
- Đợt 2: Giữa đến cuối tháng 2, phát sinh trên các trà lúa từ giai đoạn đòng - trỗ, bệnh có thể gây hại ở lá và cổ bông.
- Đợt 3: Trong tháng 3, gây hại trên trà lúa muộn.
Để hạn chế bệnh đạo ôn, các địa phương cần thường xuyên điều tra đồng ruộng, kịp thời phát hiện và tổ chức phòng trừ. Khuyến cáo ND gieo sạ các giống không nhiễm bệnh, nên sạ thưa, sạ hàng và bón phân cân đối không để thừa đạm. Khi cần thiết có thể phun các loại thuốc đặc hiệu như: Filia, Beam, Fuan, Hagro blast… Sau 7 - 10 ngày phun lại lần thứ 2 đối với những ruộng đã bị bệnh đạo ôn nặng. Ngưng bón đạm và giữ nước thường xuyên khi ruộng đã bị bệnh.
   6. Bệnh khô vằn, thối thân, thối bẹ
   Đây là những bệnh phổ biến và gây hại nghiêm trọng trên cây lúa trong thời gian gần đây. Nấm gây bệnh có thể tồn tại trong gốc rạ, trong ruộng, trong đất từ vài tháng đến một năm và lây lan từ vụ này sang vụ khác. Đặc biệt gây hại nặng trên những diện tích bón nhiều phân đạm, sạ dày, đất bị yếm khí, sử dụng giống ML48, ML68. Bệnh gây hại trên cây lúa từ giai đoạn đẻ nhánh nhưng nặng nhất từ làm đòng đến sau trổ, làm thất thu năng suất rất lớn nếu không phát hiện và phòng trừ kịp thời. Các thuốc trừ bệnh khô vằn như: Validacine, Anvil và Nevo; thuốc Nevo có hiệu quả cao trong phòng trừ bệnh thối thân và thối bẹ.
   Ngoài ra một số đối tượng gây hại khác như: Bọ trĩ, sâu keo, đục thân, sâu cuốn lá nhỏ, bệnh lem thối hạt,… cũng sẽ phát sinh gây hại cho lúa vụ ĐX; chúng sẽ gây hại nặng ở những ruộng sạ dày và bón phân không cân đối. Do đó, cần có chế độ canh tác phù hợp và chăm sóc tốt, hạn chế sử dụng thuốc BVTV, chỉ sử dụng khi thật cần thiết nhằm tránh bộc phát sâu bệnh hại.
   Để chủ động phòng trừ các đối tượng dịch hại một cách có hiệu quả, bền vững và an toàn cho môi trường và sức khỏe con người, các địa phương cần khuyến cáo nông dân thực hiện các biện pháp sau: Vệ sinh đồng ruộng dọn sạch tàn dư cây trồng và cỏ dại, làm đất kỹ; gieo sạ đúng thời vụ và tập trung; không hoặc hạn chế sử dụng các giống ghi nhận đã bị nhiễm rầy nâu, đạo ôn, thối thân nặng, nên sạ giống cấp xác nhận 1 và 2; khuyến khích ND sạ hàng, sạ thưa với lượng giống 100 – 120 kg/ha; bón phân đủ và cân đối N-P-K, nên bón lót phân chuồng, bổ sung phân vi lượng cho cây lúa, bón thêm vôi ở chân ruộng chua phèn; quản lý dịch hại theo IPM, tránh sử dụng thuốc BVTV không cần thiết vì dễ gây hiện tượng bộc phát dịch hại không kiểm soát được.
         II. Cây rau, đậu
Trong vụ Đông Xuân, ND thường trồng nhiều rau đậu để cung ứng cho thị trường. Điều kiện thời tiết vụ ĐX rất phù hợp cho các loại sâu bệnh hại phát triển như: Sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, bọ nhảy, bọ trĩ,… trên các loại rau ăn lá và sâu vẽ bùa, dòi đục lá,… trên cây họ đậu. Ngoài ra còn có các bệnh nguy hiểm như: Sương mai, thán thư, đốm lá, thối thân, thối gốc,… cũng gây hại phổ biến trên cây rau đậu.
   Cần hướng dẫn ND thực hiện giải pháp IPM để bảo vệ cây trồng, khuyến khích ND sử dụng các thuốc BVTV trong danh mục sử dụng cho cây rau, chú trọng dùng thuốc trừ sâu sinh học: Bacillus thuringiensis (Delfin, Vi – BT), Abamectin (Tập Kỳ, Vibamec,…). Tuân thủ thời gian cách ly để bảo đảm an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong dịp tết. ND trồng rau cần thực hiện việc trồng rau theo VietGAP để bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Chú ý đất trồng đậu phải thoát nước tốt tạo sự thông thóang cho bộ rễ, làm cỏ và bón phân cân đối theo quy trình của từng loại cây để hạn chế sâu bệnh và cho năng suất cao.
         III. Cây công nghiệp
1. Cây mía: Bọ phấn trắng hại mía phát sinh gây hại trên các giống R579, R570. Sâu đục thân, bệnh than, rượu lá, đỏ bẹ lá… tiếp tục phát sinh gây hại rải rác. Chú ý theo dõi bệnh héo ngọn mía ở các địa phương để có biện pháp phòng trừ kịp thời.
2. Cây sắn: Rệp sáp bột hồng xuất hiện và gây hại trên sắn niên vụ 2014-2015. Cần tập trung điều tra quản lý và tiêu hủy kịp thời tránh lây lan ra diện rộng trên cây sắn niên vụ 2015 – 2016. Chú ý theo dõi nhện đỏ và tăng cường điều tra phát hiện rệp sáp bột hồng hại sắn.  
3. Cây dừa: Bọ dừa vẫn tiếp tục gây hại, nặng nhất vào các tháng 12 đến tháng 4, cần tích cực phòng trừ bằng nhiều biện pháp, tăng cường nhân thả ong ký sinh. Tiếp tục theo dõi bọ vòi voi, sâu cắn lá dừa, đuông, kiến vương, bệnh thối đọt,… đưa ra biện pháp phòng trừ thích hợp ở những vùng dừa bị nhiễm.
   Để bảo vệ an toàn sâu bệnh cho cây trồng vụ ĐX 2015-2016, các địa phương cần thăm đồng thường xuyên, điều tra phát hiện sâu bệnh kịp thời, thông báo tình hình dịch hại cho Trạm BVTV, đề ra các biện pháp phòng trừ sát thực tế nhằm giúp nông dân sản xuất đạt hiệu quả cao nhất./.                                                            
Tác giả bài viết: Ths. Nguyễn Thanh Hiếu, Chi cục BVTV Phú Yên
Từ khóa:

sâu bệnh

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết