16:55 Thứ ba, 16/01/2018

Thông tin quan trắc môi trường nước các vùng nuôi trồng thủy sản trong tỉnh (Ðợt 14, ngày 25 và 26/8/2014)

Đăng lúc: Thứ năm - 04/09/2014 14:20 - Người đăng bài viết: minhnhat
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT PHÚ YÊN
TT GIỐNG VÀ KỸ THUẬT THỦY SẢN
 

Số: 27/TB-KTTS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Tuy Hòa, ngày 29 tháng 8 năm 2014

THÔNG BÁO
THÔNG TIN QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NƯỚC CÁC VÙNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRONG TỈNH ĐỢT 14, NGÀY 25 VÀ 26/8/2014

 
 
I. Thông tin các điểm quan trắc:
Huyện/ Thị xã Địa điểm thu mẫu Ghi chú
 
 
 
 
Sông Cầu

Tuần Nhã – xã Xuân Lộc
 
Vị trí thu mẫu: Tại lạch cấp nước, hiện nay khu vực này đã thu hoạch cua xanh, tôm sú, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.

Thôn 5 – xã Xuân Hải
 

Vị trí thu mẫu: Tại lạch cấp nước, hiện nay khu vực này đang nuôi cua xanh, ghẹ, tôm sú… thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 

Phú Dương – xã Xuân Thịnh
 

Vị trí thu mẫu: Cách bờ 500m, cách lồng nuôi 10m, thu nước tầng đáy, khu vực này đang nuôi tôm hùm và cá mú, hiện nay đang thu hoạch rải rát, mật độ lồng nuôi tôm hùm có giảm, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 

Hoà Lợi – xã Xuân Cảnh
 

Vị trí thu mẫu: Tại lạch cấp nước, hiện tại các hồ đã thu hoạch ốc hương, cá mú, một số ao cải tạo chuẩn bị thả vụ mới, thời điểm thu mẫu lúc triều cao. 
 

Vũng chào - xã Xuân Phương
 

Vị trí thu mẫu: Cách bờ 500m, cách lồng nuôi 10m, thu nước tầng đáy, hiện nay khu vực này mật độ lồng bè nuôi dày, tôm hùm phát triển tốt, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 
 
 
 
 
Tuy An

Cầu Vạn Củi – xã An Ninh Tây
 
Vị trí thu mẫu: Nước nguồn cung cấp cho nuôi tôm thẻ chân trắng, khu vực này tôm thả nuôi vụ mới rất ít. Thời điểm thu mẫu lúc triều cao.

Cầu An Hải – xã An Hải
 

Vị trí thu mẫu: Nước nguồn cung cấp cho khu vực nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng của Đầm Ô Loan. Thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 
Diêm Hội - xã An Hoà
Vị trí thu mẫu: Thu mẫu nước nguồn cung cấp cho các hồ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh của xã An Hoà, các ao đã thả giống đợt 2, số lượng ao hồ thả giống tương đối nhiều, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 
Vũng Điều –xã An Cư
Vị trí thu mẫu: Lấy mẫu nước cách bờ 30m, cách ao nuôi 10m. Đây là vùng nuôi tôm sú bán thâm canh, hồ hở, đã cải tạo xong, một số ao hồ đã thả giống, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 
 
 
 
 
Đông Hoà

Khu nuôi tôm cao triều – xã Hòa Hiệp Bắc
 

Vị trí thu mẫu: Nước biển ven bờ, khu vực nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng. Thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 
Vũng Tàu – xã Hoà Hiệp Nam
Vị trí thu mẫu: Thu tại mương cấp nước, khu vực này đang thu tỉa cua xanh, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 
Cầu Đà Nông – xã Hòa Hiệp Nam
Vị trí thu mẫu: Nước nguồn cung cấp cho khu vực nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng toàn vùng Hạ lưu Sông Bàn Thạch, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 

Phước Long – xã Hòa Tâm
 
Vị trí thu mẫu: Thu tại mương cấp nước, một số ao hồ đã thả giống vụ tiếp theo, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.

Cầu Xác Cháy – xã Hòa Xuân Đông
 

Vị trí thu mẫu: Thu tại mương cấp nước, khu vực này một số hồ thu hoạch xong, hiện nay khu vực này không tiếp tục thả giống, thời điểm thu mẫu lúc triều cao.
 
Phước Giang – xã Hòa Tâm
Vị trí thu mẫu: Thu tại mương cấp nước, khu vực này đang thu hoạch do tôm bị sự cố, số lượng ao hồ nuôi tôm có giảm hơn các đợt trước, thời điểm thu mẫu lúc triều cao. 

II. Kết quả quan trắc môi trường tại các vùng nuôi:

1.  Các chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa:
Kết quả quan trắc môi trường nước đợt 14 cho thấy các yếu tố thủy lý, thủy hóa có biến động nhiều so với đợt 13 được thể hiện qua một số chỉ tiêu sau: Độ mặn tại các vùng nuôi Sông Cầu 36 - 40‰ các vùng nuôi đầm Ô Loan dao động 22 - 36‰ và vùng nuôi hạ lưu Sông Bàn Thạch dao động 17 - 35‰. Độ kiềm các vùng nuôi Sông Cầu 120ppm, các vùng nuôi Tuy An dao động 85 - 110ppm, riêng vùng nuôi huyện Đông Hòa dao động 80 - 110ppm. Chi số pH nước tại các vùng nuôi nằm trong ngưỡng cho phép, ổn định và dao động từ 8,0 – 8,4.

2. Các chỉ tiêu về ô nhiễm hữu cơ:
Ô nhiễm dinh dưỡng tại hai điểm thu mẫu Diêm Hội – An Hòa và Phước Giang – Hòa Tâm được thể hiện qua chỉ số PO4 vượt ngưỡng cho phép 2 – 5,5 lần, số điểm ô nhiễm (2/15) và mức ô nhiễm tăng cao so với đợt 13. Nguyên nhân 2 điểm thu mẫu trên tăng cao do các ao hồ cải tạo và xả thải ra môi trường.
Không phát hiện thấy ô nhiễm NO2 và HydroSulfua ở các điểm thu mẫu và ô nhiễm Fe ở mức cho phép. Chỉ tiêu NH3 ở các điểm thu mẫu nằm ngưỡng cho phép. Chỉ tiêu DO ở các điểm thu mẫu như: Vũng chào – Xuân Phương, Cầu Vạn Củi – An Ninh Tây, Vũng Tàu – Hòa Hiệp Nam, Phước Giang, Phước Long - Hòa Tâm và Cầu Xác Cháy – Hòa Xuân Đông thấp dưới ngưỡng cho phép trong nuôi trồng thủy sản, dao động 3,6-4,4mg/L (ngưỡng cho phép > 5mg/L). Chi tiêu COD tại các điểm thu mẫu đều nằm trong ngưỡng cho phép, riêng điểm thu mẫu tại Diêm Hội – An Hòa vượt ngưỡng cho phép 1,4 lần.

3. Các chỉ tiêu về ô nhiễm vi sinh:
Các chỉ tiêu vi sinh như: Mật độ Vibrio có giảm so với đợt 13, điểm thu mẫu Hòa Lợi – Xuân Cảnh có mật độ vibrio cao hơn ngưỡng cho phép. Tổng Coliform ở các điểm thu mẫu nằm trong ngưỡng cho phép, riêng 2 điểm thu mẫu Cầu Vạn Củi – An Ninh Tây và Cầu Đà Nông – Hòa Hiệp Nam vượt ngưỡng cho phép 1,1 lần.

4. Tình hình tôm nuôi và bệnh tôm trong nuôi trồng thủy sản
Hiện nay tôm nuôi tại các vùng trong tỉnh đã thu hoạch khá nhiều, một số ao hồ vùng trên triều bắt đầu thả giống đợt tiếp theo, nhiều ao hồ không thành công trong vụ 1 đã ngừng không tiếp tục thả giống. Cuối tháng 8 gió Lào đã giảm, trên toàn tỉnh có mưa, nhiệt độ nước giảm đột ngột tôm đang nuôi giảm ăn và rớt đáy phải thu hoạch sớm. Tình hình bệnh trên tôm thẻ nuôi diễn biến rất phức tạp, bệnh hoại tử gan tụy và bệnh đốm trắng vẫn diễn ra rải rác ở các vùng nuôi trong tỉnh thường xảy ra giai đoạn tôm nuôi dưới 30 ngày tuổi.

III. Kết luận và khuyến cáo:
Chất lượng nước tại các vùng nuôi trong toàn tỉnh tại thời điểm thu mẫu có mức độ ô nhiễm tương đối thấp, nhiều điểm thu mẫu có một số chỉ tiêu vượt hoặc dưới ngưỡng cho phép trong nuôi trồng thủy sản, đặc biệt hàm lượng Oxy hòa tan rất thấp, mật độ Vibrio thấp hơn đợt 13, số điểm thu mẫu có mật độ vibrio vượt ngưỡng cho phép (1/15 điểm). Do cuối vụ nuôi nên lượng chất thải từ việc cải tạo ao đìa ít thải ra môi trường nên ô nhiễm dinh dưỡng giảm so với giữa vụ nuôi (trừ 2 điểm thu mẫu đang cải tạo thả giống đợt tiếp theo). Trong 2 tuần qua nhiều ao nuôi tôm thẻ chân trắng giảm ăn và rớt đáy phải thu hoạch sớm, một số ao hồ thả mới có dấu hiệu chết rải rác.

- Độ mặn, kiềm và pH tại các điểm thu mẫu ít dao động, riêng độ mặn tại Thị Xã Sông Cầu có xu hướng tăng cao hầu hết các vùng nuôi trồng thủy sản.

- Chỉ tiêu NH3 trong môi trường nước tại điểm thu mẫu trên toàn tỉnh nằm trong ngưỡng cho phép.

- Muối phosphat vượt ngưỡng cho phép ở Diêm Hội – An Hòa và Phước Giang – Hòa Tâm. Mức độ ô nhiễm tăng so với đợt 13.    

- Oxy hòa tan dưới ngưỡng cho phép được phát hiện ở 6/15 điểm thu mẫu nhiều hơn đợt 13, có thể do nắng nóng làm tảo phát triển mạnh vào ban ngày ở những tuần trước đó nên về đêm hàm lượng oxy giảm mạnh.

- Ô nhiễm vi sinh đặc biệt Vibrio giảm so với các đợt trước được phát hiện tại một điểm thu mẫu, nhiệt độ môi trường giảm là nguyên nhân làm cho Vibrio giảm.

Trung tâm Giống và KKTS khuyến cáo:
- Quản lý lồng bè nuôi chặt chẽ hơn, thức ăn cho tôm phải tươi và rửa sạch, xác tôm chết, thức ăn thừa phải tiêu hủy hợp lý xa khu nuôi, mật độ lồng nuôi tôm hùm, cá biển quá dày nên giãn lồng theo quy định 60 đến 80 lồng/ha mặt nước; mỗi lồng chỉ nuôi khoảng 50 con ở thời kỳ trưởng thành nhằm hạn chế dịch bệnh.

- Việc sử dụng các loại thuốc bổ và thuốc phòng trị bệnh tại các hộ nuôi tôm hùm cần phải tham khảo quy trình điều trị đã được công bố trên các thông tin đại chúng và của cơ quan quản lý chuyên ngành để phòng ngừa bệnh trên tôm hùm đạt được hiệu quả cao.

- Vùng nuôi tôm thẻ chân trắng trung tiều và dưới triều đã thu hoạch không nên tiếp tục thả nuôi, phải tuân thủ lịch thời vụ do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Các hộ nuôi chưa thu hoạch phải thường xuyên kiểm tra các yếu tố môi trường bằng test kit trước khi cấp nước vào ao, trong quá trình nuôi tăng cường kiểm tra các yếu tố môi trường nước 2 lần/ngày.

- Các hộ nuôi tôm thẻ cần xử lý nước định kỳ nhằm hạn chế Vibrio phát triển, đồng thời cắt tảo định kỳ bằng BKC ở nồng độ nhẹ đối với những ao có tảo phát triển mạnh, nhằm hạn chế thiếu oxy vào lúc sáng sớm, thường xuyên kiểm tra nồng độ Oxy hòa tan vào ban đêm để tăng cường hệ thống Oxy trong ao nuôi.

- Tăng cường xử lý vi sinh, vôi để phân hủy thức ăn thừa, phân tôm, xác tôm lột và tảo tàn. Kiểm soát chặt chẽ lượng thức ăn cho vật nuôi, tuyệt đối không cho ăn thừa; thức ăn không đạt chất lượng và cho ăn bổ sung vitamin C, khoán vi lượng để tăng cường sức đề kháng cho vật nuôi.

- Hiện nay trầm tích tại kênh mương cấp nước, Sông và Vịnh ở các vùng nuôi trồng thủy sản khá nhiều bởi việc cải tạo ao đìa ra môi trường và các chất thải từ thức ăn tôm hùm, cá biển lắng tụ ở lồng, bè ngày càng dày, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tái phát dịch trên động vật nuôi thủy sản.

 
i nhn:     
-    Sở Nông nghiệp và PTNT Phú Yên (báo cáo);      
-    Chi cục thú Y Phú Yên; 
-    Trung tâm Khuyến Nông - Khuyến ngư;    
-    Các thông tin báo chí trên địa bàn tỉnh;
-    UBND các xã ven biển;                                                  
-    Phòng Kinh tế các huyện ven biển;                                   
-    GĐ, CBKT;              
-    Lưu VT.
GIÁM ĐỐC
 
 
 


 
Lê Quang Hiệp
 
Tác giả bài viết: Trung tâm Giống và Kỹ thuật thuỷ sản
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết